Đài tiếng nói nhân dân TPHCM
The Voice of Ho Chi Minh City People
  • Năm ứng viên cùng GS Bảo Châu trước thềm giải Fields 20

    Trong số 20 gương mặt được mời báo cáo tại hội nghị Toán học thế giới (tổ chức tại Hydrabad, Ấn Độ ngày 19/8 tới), giới chuyên môn liệt ra 6 ứng viên tiềm năng nhận huy chương Fields. Cùng với GS Ngô Bảo Châu là 5 gương mặt đến từ Anh, Brazil, Canada, Australia.

    1. Ngô Bảo Châu (38 tuổi, Việt Nam)
    Bảo vệ luận án tiến sĩ tại: Đại học Paris-Sud XI (1997)
    Người hướng dẫn: Gérard Laumon
    Hiện tại làm việc tại Viện nghiên cứu cao cấp Princeton, từ tháng 9/2010 là Giáo sư tại Đại học Chicago
    Giải thưởng: Giải thưởng khoa học của Viện Toán học Clay (2004), Oberwolfach Prize (2007)Ngô Bảo Châu sinh năm 1972 tại Hà Nội. Bố anh là GS.TSKH Ngô Huy Cẩn, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học - Viện Cơ học Việt Nam. Mẹ anh là PGS.TS Trần Lưu Vân Hiền, chuyên ngành Hoá dược.

     

     Ngô Bảo Châu

    Ngô Bảo Châu từng là học sinh Trường thực nghiệm Giảng Võ và lớp chuyên Toán trường THCS Trưng Vương, trước khi theo học tại khối THPT chuyên - ĐHKHTN - Đại học Quốc gia Hà Nội. Tại đây, anh 2 lần liên tiếp giành Huy chương Vàng Olympic Toán quốc tế, trong đó có một Huy chương Vàng với điểm số tối đa. Thành tích này giúp Ngô Bảo Châu giành được học bổng để theo học Đại học Paris 6 nhưng anh quyết định chọn Đại học Sư phạm (École Normale Supérieure).

    Năm 2004, Ngô Bảo Châu cùng Gerard Laumon được trao tặng giải thưởng của Viện Toán học Clay. Năm 2005, Ngô Bảo Châu trở thành vị Giáo sư trẻ nhất của Việt Nam. Năm 2008, anh công bố lời giải Bổ đề cơ bản Langlands, được kiểm chứng vào năm 2009 và được tạp chí The Time bình chọn là 1 trong10 phát minh khoa học Thế giới năm 2009.

     

     Ben Joseph Green

    Ben J Green

    Ben J. Green (33 tuổi), công dân Anh, Tiến sĩ năm 2003 (University of Cambridge), dạy môn Toán Tổ hợp và Lý thuyết số tại Đại học Cambridge, Anh.

    Anh cộng tác với Terence Tao (University of California, Los Angeles, huy chương Fields năm 2006) lập ra Định lý Green – Tao, được xem là một đột phá về Toán học của năm 2004. Người hướng dẫn luận án TS cho Green, Timothy Gowers, từng được huy chương FIELDS năm 1998.

    Green được trao giải Clay Research Award năm 2004; giải thưởng Salem Prize năm 2005 về các cống hiến cho môn Toán tổ hợp; giải thưởng SASTRA Ramanujan Prize năm 2007 của Học viện Nghệ thuật, Khoa học và Nghiên cứu Shanmugha, Ấn Độ, một giải từng được trao lần đầu vào năm 2005 cho một ứng viên khác của giải FIELDS 2010 là Manjun Bhargava, và một nhà toán học nữa, người Ấn Độ. Terence Tao nhận giải này năm 2007.

    Năm 2008 Green nằm trong số mười người được nhận giải EMS. EMS là giải của Hội các nhà toán học châu Âu, Hội được thành lập năm 1990. Giải EMS được trao bốn năm một lần cho các nhà toán học trẻ làm việc ở châu Âu.

     

     Manjul Bhargava

    Manjul Bhargava

    Manjul Bhargava là công dân Canada (gốc Ấn Độ), sinh năm 1974, tốt nghiệp đại học Havard năm 1996. Bảo vệ luận án tiến sĩ năm 2001 tại Princeton University. Được giải Clay Research Award năm 2005.

    Manjul Bhargava nhận huy chương Clay vào năm 2005, và được trao một số giải thưởng như giải Morgan Prize năm 1996 dành cho sinh viên Hoa Kỳ, Canada, Mexico; Cole Prize của Hiệp hội toán học Mỹ (AMS) năm 2008, về Lý thuyết số ... ămCác đóng góp của Bhargava về Lý thuyết số Đại số (algebraic number theory), Toán học tổ hợp (combinatorics) và cấu trúc đại số (algebraic structure) có lẽ đã giúp Bhargava chính thức trở thành giáo sư trẻ nhất trong lịch sử đại học Princeton.

    Người hướng dẫn luận án TS cho Manjul Bhargava là Sir Andrew Wiles, người đã chứng minh được định lý lớn Fermat vào năm 1995. Andrew Wiles được phong tước Hiệp sĩ Anh do các cống hiến khoa học của ông. Các hướng nghiên cứu trong tương lai của Bhargava, ngoài các lĩnh vực toán học như Hàm giai thừa, còn bao gồm cả tiếng Phạn (Sankrit).

     

     Artur Ávila

    Artur Ávila
     

    Artur Ávila là nhà toán học người Brazil, năm nay 32 tuổi.

    Anh được huy chương vàng Olympic về Toán năm 1995. Bảo vệ Tiến sĩ tại đại học Instituto de Matemática Pura e Aplicada, Brazil, năm 2001. Được nhận học bổng Clay Reseach Fellowship năm 2009. Hiện công tác ở Viện Toán học Clay.

    Các giải thưởng về Toán học được trao cho Ávila còn có giải Salem Prize năm 2006; EMS prize 2008; Herbrand Price của Học viện Khoa học Pháp năm 2009. Các hướng nghiên cứu chính của Ávila là Lý thuyết hệ thống động (Dynamical systems), và Lý thuyết quang phổ (Spectral theory).

     

     Danny Calegari

    Danny Calegari

    Danny Calegari, sinh năm 1972 tại Australia, tốt nghiệp đại học tổng hợp Melbourne năm 1994. Bảo vệ luận án tiến sĩ năm 2000 tại Đại học California tại Berkeley về Phân lớp (foliation) của Đa tạp tôpô ba chiều (three-dimensional manifolds). Một trong những người hướng dẫn của Calegari là GS. William Thurston, từng được trao Huy chương Fields năm 1982.

    Calegari được trao giải Clay Research Award năm 2009 về Hình học tôpô và Lý thuyết nhóm trong hình học (geometric group theory). Những năm 2000 – 2002 là trợ giáo tại ĐH Harvard.

    Calegari hiện là giáo sư tại Caltech (Đại học Công nghệ California/California Institute of Technology). Calegari còn là tác giả của một số truyện ngắn in trên các tạp chí văn học của Australia, và từng được giải thưởng văn học The Age Short Story năm 1992 về một truyện ngắn.

     

     Christopher Hacon

    Christopher Hacon

    Christopher Hacon sinh năm 1970 tại Anh. Tốt nghiệp đại học tại University of Pisa, Italia năm 1992. Bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học California tại Los Angeles năm 1998.

    Nhận giải Clay Research Award năm 2007, giải thưởng Cole Prize của AMS về đại số năm 2009. Từ năm 1998 tới nay, Hacon là giáo sư Đại học tổng hợp bang Utah, Hoa Kỳ. Hacon còn làm biên tập viên cho tạp chí của Hội toán học Hoa Kỳ.

    VTC