Đài tiếng nói nhân dân TPHCM
The Voice of Ho Chi Minh City People
  • 20 kỷ lục về Hà Nội ngàn năm lần đầu công bố

    Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam vừa công bố lần đầu tiên 20 kỷ lục Việt Nam của Thủ đô Hà Nội và sẽ trao tặng giấy xác lập, cúp lưu niệm vào dịp tổng kết đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

    1. Nơi duy nhất chứng kiến sự ra đời của 3 bản Tuyên ngôn độc lập

    Quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

     

    Mảnh đất Thăng Long - Hà Nội - nơi chứng kiến sự hình thành và công bố hai tác phẩm văn hóa chính luận bất hủ là: Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi vào đầu thế kỷ XV và Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào giữa thế kỷ XX.

    Hai tác phẩm trên cùng với bài thơ Nam quốc sơn hà vẫn cho là của Lý Thường Kiệt, vào nửa sau thế kỷ XI, được các nhà sử học coi như “Ba bản Tuyên ngôn độc lập” của dân tộc Việt Nam.

    2. Thành phố có nhiều hồ đầm nhất

    Thăng Long - Hà Nội có nhiều hồ đầm tự nhiên hình thành do quá trình biến đổi dòng chảy qua các thời kỳ kiến tạo địa chất, địa mạo, do sự bồi lấp tự nhiên và do cả sinh hoạt xã hội - con người tác động.

    Vào thập niên cuối của thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu ghi nhận có đến hơn 40 hồ đầm lớn nhỏ ở Hà Nội, trong đó 3 hồ nổi tiếng nhất nằm trong nội thành là hồ Tây, hồ Trúc Bạch và hồ Gươm.

    3. Thành phố lớn nhất

     


    Ngày 29/05/2008, kỳ họp thứ 3 của Quốc hội khóa XII đã chính thức thông qua Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính của thành phố Hà Nội và một số tỉnh liên quan. Theo đó, diện tích của thành phố Hà Nội mở rộng bao gồm toàn bộ phần diện tích của Hà Nội cũ, toàn bộ diện tích tỉnh Hà Tây cũ, huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung của huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình.

     

    Hiện nay, thành phố Hà Nội có tổng diện tích 3.324,92km2, gồm 10 quận, 1 thị xã, 18 huyện ngoại thành, đứng đầu cả nước về diện tích và nằm trong số 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới.

    4. Thành phố có nhiều di tích thắng cảnh nhất
    Là mảnh đất nghìn năm văn hiến, Hà Nội lắng đọng những tinh hoa văn hóa của dân tộc suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước với hơn 4.000 di tích danh thắng (trong đó, hơn 1.000 di tích đã được xếp hạng quốc gia) cộng với một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể phong phú.

    Có thể kể đến những di tích danh thắng nổi tiếng như: thành Cổ Loa, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, chùa Một Cột, hồ Hoàn Kiếm, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh thắng Hương Sơn, chùa Thầy, chùa Tây Phương, Hoàng thành Thăng Long, làng cổ Đường Lâm… Bên cạnh đó, Hà Nội còn có hơn 1.200 làng nghề cùng nhiều lễ hội độc đáo và một nền văn hóa ẩm thực đa dạng, đặc sắc.

    5. Thành phố có hệ thống bảo tàng nhiều nhất

    Bảo tàng Hồ Chí Minh.


    Đến Hà Nội, bạn sẽ được hướng dẫn đến các bảo tàng như: Bảo tàng Hồ Chí Minh là nơi lưu giữ trên 120.000 tài liệu, hiện vật, phim ảnh về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bảo tàng Cách Mạng thành lập tháng 8/1959 có 30 phòng trưng bày trên 40.000 hiện vật. Bảo tàng Quân đội gồm 30 phòng, trưng bày những hiện vật và tài liệu giới thiệu quá trình ra đời và trường thành của các lực lượng vũ trang qua các thời kỳ lịch sử.

    Đồng thời, các bảo tàng như: Bảo tàng chiến thắng B52, Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo tàng Hà Nội, Bảo tàng Phòng không không quân, Bảo tàng Địa chất… là những nơi lưu lại dấu ấn một thời của đất nước, thủ đô nhằm phục vụ nhu cầu của HSSV, người dân trong và ngoài nước đến tham quan, học tập.

     

    6. Thành phố có tên phố và ngõ bắt đầu bằng chữ “hàng” nhiều nhất
    Thăng Long - Hà Nội xưa có tới hơn 50 tên phố, ngõ được bắt đầu bằng chữ Hàng. Mỗi tên phố được gắn với một sản vật mà nơi đó buôn bán hoặc là nghề nghiệp của người dân nơi đó. Người đi học có thể lên Hàng Giấy, Hàng Bút; người dân lao động thì gắn với Hàng Gạo, Hàng Cá, Hàng Đường, Hàng Khoai, Hàng Bột, Hàng Dầu...

    Còn rất nhiều tên phố nếu cần mua thứ gì thì cứ đến đúng phố đó: Hàng Than, Hàng Hương, Hàng Buồm, Hàng Mành, Hàng Thiếc, Hàng Cân, Hàng Chỉ, Hàng Hành, Hàng Bè, Hàng Vôi, Hàng Cháo…

    Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, qua các tài liệu cũ ta thấy có tới 72 tên phố, ngõ bắt đầu với chữ “Hàng”, gắn với những thứ hết sức quen thuộc trong đời sống thường nhật.

    7. Công trình Đài nghiên – Tháp bút duy nhất

     


    Năm 1865, khi tôn tạo trùng tu đền Ngọc Sơn, danh nho đất Hà thành Nguyễn Văn Siêu đã cho xây dựng nhiều hạng mục mới, trong đó có Tháp Bút – Đài Nghiên. Đến nay, trải qua hơn trăm năm, Tháp Bút - Đài Nghiên trở thành một hình ảnh rất đỗi quen thuộc với người Việt Nam, là một trong những biểu trưng của đạo học, ca ngợi truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam.

    Tháp Bút có hình một ngòi bút dựng ngược, gồm 5 tầng, cao 28m, nằm trên một ngọn đồi nhân tạo bằng đá (núi Độc Tôn). Cạnh Tháp Bút, trên mái lớp cổng thứ ba của đền Ngọc Sơn có đặt một Đài Nghiên, là một cái nghiên mực bằng đá có hình nửa trái đào bổ ngang theo chiều dọc.

     

    8. Làng cổ đầu tiên được công nhận di tích lịch sử Quốc gia

    Là vùng đất cổ có quá trình hình thành và phát triển liên tục, Đường Lâm hội đủ các giá trị văn hóa tiêu biểu của làng cổ Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng. Ngoài khoảng 800 ngôi nhà cổ bằng đá ong, về di sản văn hóa vật thể gồm đình, chùa, miếu, lăng, mộ… làng cổ Đường Lâm có 21 di tích, trong đó có 10 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và cấp tỉnh, trong đó có chùa Mía được đề nghị xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.

    Ngày 28/11/2005, làng cổ Đường Lâm được Bộ Văn hóa Thông tin ký quyết định công nhận di tích quốc gia. Đây là làng cổ đầu tiên trong cả nước được xếp hạng di tích quốc gia.

    9. Trường Quốc học cao cấp đầu tiên của Việt Nam
    Năm 1076 vua Lý Nhân Tông (1066-1128) cho xây dựng Quốc Tử Giám. Năm 1236, trường được mở rộng, đổi tên là Quốc Tử Viện, sau là Quốc Học Viện, triều Lê đổi tên là Thái Học Viện có quy mô kiến trúc khang trang, bề thế gồm có cửa Thái Học, nhà Minh Luân, giảng đường phía Đông, phía Tây, kho chứa ván gỗ khắc sách, hai khu Tam xá cho giám sinh nghỉ ngơi. Quốc Tử Giám tồn tại hơn 700 năm, đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước và được coi là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam.

    10. Nơi có hệ thống văn bia tiến sĩ nhiều nhất

     


    Văn Miếu xây dựng vào năm 1070 tức năm Thần Vũ thứ hai đời vua Lý Thánh Tông. Từ khoa thi năm 1442 trở về sau, những người đỗ Tiến sĩ được vinh danh tên tuổi trong các kỳ thi Tiến sĩ triều Lê và Mạc (1442-1779).

    Trên mỗi tấm bia khắc một bài văn (bài ký) bằng chữ Hán, nội dung ghi lại lịch sử của các khoa thi tổ chức từ năm 1442 đến 1779. Trong đó, tấm bia đầu tiên xây dựng từ năm 1484 đời vua Lê Thánh Tông, ghi lại lịch sử khoa thi năm 1442. Tấm bia cuối cùng dựng vào năm 1780 cho khoa thi tổ chức vào năm 1779. Có 82 tấm bia tương ứng 82 khoa thi khắc tên 1.304 vị Tiến sĩ.

    11. Bia tiến sĩ đầu tiên

    Văn Miếu Hà Nội lưu giữ 82 tấm bia tiến sĩ dựng từ năm 1484 đến 1780, ghi họ tên và quê quán của 1.307 vị tiến sĩ của 82 khoa thi được tổ chức từ 1442 đến 1779. Tấm bia tiến sĩ đầu tiên được khắc cho khoa thi 1442, bia cuối cùng khắc cho khoa thi 1779. Bia tiến sĩ đều được tạo bằng một loại đá xanh, khai thác từ núi An Thạch, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa, kích thước không đều nhau, chạm khắc hoa văn tinh xảo, nằm đối xứng hai bên giếng Thiên Quang.

     

    Bia được đặt trên lưng rùa, biểu hiện cho sự tôn trọng hiền tài và trường tồn mãi mãi. Tấm bia tiến sĩ của đầu tiên của Việt Nam là tấm bia của khoa Nhâm Tuất niên hiệu Bảo Đại 3 (1442), được vua Lê Thánh Tông (1442-1497) cho dựng vào năm 1484.

    12. Tòa thành cổ nhất

     


    Thành Cổ Loa do vua An Dương Vương xây cách đây hơn 23 thế kỷ, là tòa thành cổ nhất trên đất Hà Nội. Thành Cổ Loa được đắp vào năm 225 trước công Nguyên, là kinh đô khi Thục Phán - An Dương Vương dựng nước Âu Lạc xây dựng nên. Đây là ngôi thành cổ xưa nhất và cũng là một công trình kiến trúc quân sự độc đáo của Việt Nam nằm trong xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.

    13. Trường Mỹ thuật đầu tiên

    Đó là trường Mỹ thuật Đông Dương mở tại Hà Nội và khai giảng ngày 17/10/1924, do ông Victor Tardieu, một họa sĩ người Pháp tâm đắc với hội họa, làm hiệu trưởng. Chương trình đào tạo lúc đầu của nhà trường kéo dài 3 năm, về sau được nâng lên đào tạo khóa 5 năm, bắt đầu từ 1926.

    Tính đến Cách mạng Tháng Tám 1945 trường đã đào tạo được 17 khóa, trong đó có 13 khóa trọn vẹn với nhiều họa sĩ và nhà điêu khắc nổi tiếng của Việt Nam sau này như: Tô Ngọc Vân, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Gia Trí, Bùi Xuân Phái, Trần Văn Cẩn...

     

    Sau nhiều lần đổi tên, nâng cấp năm 1981, trường mang tên Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, đến năm 2008, chuyển thành trường Đại học Mỹ Thuật Việt Nam.

    14. Trường Đại học Y đầu tiên

    Vào năm 1902, chính quyền Pháp thành lập Trường Đại học y dược đầu tiên của bán đảo Đông Dương theo mô hình phương Tây ở Việt Nam, đó là Trường đại học Y dược Hà Nội. Hiệu trưởng đầu tiên của trường là một thầy thuốc nổi tiếng: Bác sĩ Yersin.

    Từ năm 1902 đến năm 1945, trường nằm dưới sự điều hành của trường Đại học Paris và hiệu trưởng đều là người Pháp. Sự phát triển của trường dẫn đến sự hình thành của hai bệnh viện thực hành đó là là bệnh viện Phủ Doãn và Bạch Mai.

    Ngày 15/11/1945, Trường Đại học Y dược Hà Nội khai giảng năm học đầu tiên của một quốc gia độc lập.

    15. Khu vườn duy nhất có nhiều giống cây trái đặc trưng ba miền

     


    Đó là khu vườn nhà Bác Hồ, nơi Người ở và làm việc từ ngày 17/05/1958 cho tới khi qua đời. Trong khu vườn rộng sau Phủ Chủ tịch, có một con đường đẹp rải sỏi, hai bên trồng xoài, dẫn tới một ngôi nhà sàn nhỏ nhắn, bình dị, giữa những vòm cây.

     

    Vườn quả sau nhà gồm cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi ra biếu Bác từ năm 1954, cam Hải Phòng và hàng trăm loài cây quý đặc sản như bưởi Phúc Trạch, Thanh Hóa, Biên Hòa, Mê Linh; cam Xuân Mai, Vân Du, Xã Đoài, Sông Con; quýt Hương Cần, Lý Nhân; táo Thiện Phiến,...

    Đặc biệt, khu vườn của Bác còn có cả những loại cây nhập từ nước ngoài như 11 cây ngâu hoa trồng cạnh nhà sàn, 5 cây bông bụt mọc quanh ao, 26 cây cau vua gốc từ Ca-ri-bê, cây tre bụng Phật…

    16. Làng làm nghề ảnh sớm nhất

    Đó là làng Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức. Nguyên người làm nghề ảnh sành sỏi và tài năng nhất vào những năm 1900-1910 ở Hà Nội là ông Khánh Ký vốn người gốc làng Lai Xá. Vì thế khi cơ ngơi đã vững vàng, ông đã về quê vận động bà con làng xóm học nghề làm ảnh.

    17. Phố có nhiều cổng làng nhất

    Phố Thụy Khuê dài 3,2km, bắt đầu từ giao điểm của phố Quán Thánh - đường Thanh Niên chạy dài đến ngã ba đường Bưởi - Lạc Long Quân. Đây là con phố có nhiều di tích, đình, chùa, miếu cổ đã được xếp hạng như đền Thụy Khuê, đền Đồng Cổ, chùa Mật Dụng, đền Vệ Quốc, đình Yên Thái. Và đặc biệt, phố còn là nơi lưu giữ hàng chục cổng làng, một chứng tích của “làng quê lên phố”.

    18. Cây cầu sắt nhiều tuổi nhất

     


    Cầu Long Biên xây dựng từ năm 1899 đến năm 1902, dài 1862m gồm 19 nhịp dầm thép và đường dẫn bằng đá. Cầu được đặt tên là Paul Doumer (tên của Toàn quyền Đông Dương), nhưng người Hà Nội vẫn quen gọi là cầu Long Biên hay cầu sông Cái. Vào đầu thế kỷ XX, Long Biên là một trong 4 cây cầu lớn nhất thế giới, một công trình sắt thép đồ sộ nhất bán đảo Đông Dương.

    19. Di tích có quy mô khai quật lớn nhất

    Di tích hoàng thành Thăng Long với diện tích khai quật rộng hơn 19.000m2 trên khu vực nằm giữa các phố Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Độc Lập, Bắc Sơn ở quận Ba Đình – Hà Nội, là di tích có quy mô khai quật lớn nhất Việt Nam. Quy mô này cũng thuộc loại lớn nhất ở Đông Nam Á, tiến hành các năm 2002 - 2003. Qua đó, tại đây đã phát lộ nhiều di tích lịch sử văn hóa vô giá nằm ở độ sâu từ 1m đến hơn 4m dưới lòng đất; lần lượt được phát hiện qua các tầng văn hóa với niên đại xa đến 1.300 năm (thời Đại La), 1.000 năm (thời Lý, thời Trần, thời Lê).

    20. Viện nghiên cứu khoa học đầu tiên

    Viện Viễn Đông Bác Cổ là một trung tâm nghiên cứu khoa học, khảo cứu lịch sử, ngôn ngữ, khảo cổ học các nước Đông Dương và khu vực Viễn Đông, được thành lập năm 1901 (tiền thân là Đoàn khảo cổ học Đông Dương thành lập ngày 15/12/1898). Nơi đây tập trung một số nhà Đông phương học của Pháp cùng những học giả Việt Nam (Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên).

    Đến nay, sau nhiều lần di chuyển, bảo tàng này được chuyển ra khu Đồn Thủy gần tòa Lãnh sự Pháp và sau này là Viện Bảo tàng Lịch sử.


    VNNet