Sự kiện:  Ngữ văn, Học tập

Phân tích nỗi lòng người phụ nữ trong bài thơ Tự Tình của Hồ Xuân Hương

"Tự Tình" của Hồ Xuân Hương là tác phẩm thể hiện nỗi khao khát mãnh liệt và thái độ muốn vùng vẫy khỏi cảnh ngộ éo le của người phụ nữ trong chế độ phong kiến.

1. Tác giả Hồ Xuân Hương

Cuộc đời nữ sĩ Hồ Xuân Hương từ năm sinh, năm mất, gia đình, quê hương, nơi ở vẫn còn nhiều nghi vấn. Cuộc đời nữ nghĩ này long đong, lận đận, nhất là về đường tình duyên. Hai lần lấy chồng (ông Phủ Vĩnh Tường và Tổng Cóc) thì cả hai lần đều làm vợ lẽ và chồng đều qua đời sớm.

phan-tich-noi-long-nguoi-phu-nu-trong-tu-tinh-cua-ho-xuan-huong-1
Cuộc đời nữ sĩ Hồ Xuân Hương long đong, lận đận nhiều về tình duyên

Con người Hồ Xuân Hương sắc sảo, cá tính và rất có bản lĩnh "Bất chấp mọi thói thường/ Dám viết dám làm không cần ai biết". Thơ của bà bao gồm cả thơ chữ Nôm và chữ Hán, trào phúng ("câu thơ nhạo báng") nhưng đậm chất trữ tình ("ráo riết" "những niềm vui nỗi khổ của cuộc đời"). Thơ của Hồ Xuân Hương là tiếng nói đồng cảm và bênh vực đối với người phụ nữ "giàu bản sắc Việt Nam".

Thanh mà tục, tục mà thanh - nói như Xuân Diệu: "Thơ Hồ Xuân Hương cùng một truyền thống, một nếp với rất nhiều câu đố tục giảng thanh rất phổ biến trong nhân dân", được tôn là "Bà chúa thơ Nôm".

2. Phân tích bài thơ Tự Tình

2.1. Thể thơ và thể loại

Bài thơ "Tự Tình" theo thể thất ngôn bát cú Đường luật với bố cục 04 phần: Đề - Thực - Luận - Kết. Bài thơ theo thể loại thơ trữ tình – trực tiếp bộc lộ tâm trạng của nhân vật trữ tình qua cách cảm nhận không gian, thời gian, cảnh vật và duyên phận. Trong thơ, ngoại cảnh cũng là nội tâm. Trong cảnh có tình, trong tình thấy cảnh.

2.2. Phân tích hai câu đề

Thông qua hai câu thơ đầu của bài thơ "Tự Tình" có thể thấy tâm trạng của nhân vật trữ tình được thể hiện qua sự cảm nhận về thời gian, không gian. “Đêm khuya”- vừa là khoảng thời gian con người đối diện với chính mình trong những suy tư trăn trở vừa gợi ra một không gian vắng lặng yên tĩnh. Âm thanh “văng vẳng” của tiếng trống canh dồn càng làm cho không gian thêm quạnh hiu, con người cô đơn, lẻ loi.

Cảm nhận được bước đi vội vã hối hả như giục giã, thôi thúc của thời gian qua nhịp đập liên hồi của tiếng trống canh. Đó chính là tâm trạng rối bời, vừa lo âu vừa buồn bã của con ngời khi ý thức được sự trôi chảy của thời gian, đời người.

phan-tich-noi-long-nguoi-phu-nu-trong-tu-tinh-cua-ho-xuan-huong-2
Hai câu đề mang đến cảm giác cơ đơn trống vắng

Nhân vật trữ tình ý thức được về cảnh ngộ của mình thông qua từ "trơ". “Trơ” có những nghĩa: phơi ra, bày ra; trơ trọi lẻ bóng; bẽ bàng tủi hổ. “Trơ cái hồng nhan”: thủ pháp đảo ngữ và nhịp thơ 1/3/3 của câu thơ nhấn mạnh vào sự bẽ bàng của duyên phận. “Trơ” không chỉ là bẽ bàng, tủi hổ mà còn thể hiện sự kiên cường, bền bỉ, thách thức.

Hai câu đề mang đến một cảm giác cô đơn trống vắng trước vũ trụ và tủi hổ bẽ bàng trước cuộc đời.

2.3. Phân tích hai câu thực

Khi buồn tủi người xưa thường “nâng chén tiêu sầu”. Nỗi niềm của thi nhân ở câu “say lại tỉnh” như thể lặp lại, quay lại gợi một vòng tròn luẩn quẩn trở đi trở lại bế tắc của số phận.

Hình ảnh “trăng” cũng xuất hiện trong hai câu này. Trăng là người bạn muôn đời thủy chung của thi ca. Từ “bóng xế” như ý nói trăng sắp tàn mà vẫn “khuyết chưa tròn”. Như tuổi xuân sắp trôi qua mà nhân duyên không trọn vẹn. Thật là cay đắng!

Hai câu thực là một nỗi xót xa, cay đắng cho duyên phận dở dang, lỡ làng.

2.4. Phân tích hai câu luận

Thiên nhiên trong hai câu thơ này hiện ra trong cảm nhận của nhân vật trữ tình. Ngoại cảnh cũng là nội tâm. “Xiên ngang mặt đất rêu…”; “Đâm toạc chân mây đá…”. Cảnh thiên nhiên và cảnh được gợi qua tâm trạng như cũng mang nỗi niềm phẫn uất, phản kháng dữ dội của con người.

Hồ Xuân Hương đã sử dụng nghệ thuật đảo ngữ làm nổi bật sự vùng lên, phá ngang của thân phận đất đá cỏ cây- cũng là sự phẫn uất của tâm trạng. Kèm theo đó là các động từ mạnh: “xiên, đâm” kết hợp với các phụ ngữ “ngang, toạc” độc đáo thể hiện sự bướng bỉnh, ngang ngạnh…không chỉ phẫn uất mà còn phản kháng.

Đây là cách dùng từ “rất Xuân Hương” - cảnh trong thơ bà bao giờ cũng sinh động và căng tràn sức sống - mãnh liệt ngay trong cả tình huống bi thương. Hai câu luận thể hiện một sự phẫn uất, phản kháng.

2.5. Phân tích hai câu kết

Hai câu kết cho thấy sự dám thách thức duyên phận, gắng gượng vươn lên nhưng rốt cuộc vẫn rơi vào bi kịch. Điều này thể hiện qua từ “Ngán”: chán ngán, ngán ngẩm. Mệt mỏi chán chường trước duyên phận éo le, bẽ bàng. Tiếp đó là từ “Xuân” và là mùa xuân vừa là tuổi xuân. Mùa xuân của thiên nhiên tuần hoàn, vĩnh cửu còn tuổi xuân của đời người thì qua đi không bao giờ quay trở lại.

phan-tich-noi-long-nguoi-phu-nu-trong-tu-tinh-cua-ho-xuan-huong-3
Hai câu kết thể hiện rõ sự ngán ngẩm, buông xuôi

Tiếp đó là từ “Lại” trong “xuân đi xuân lại lại” mang hai nghĩa khác nhau: thêm lần nữa, trở lại. Sự trở lại của mùa xuân lại đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân. Và cụm từ “Mảnh tình – san sẻ - tí con con”, đây à thủ pháp tăng tiến nhấn mạnh vào sự nhỏ bé dần làm cho nghịch cảnh éo le hơn. Âm điệu câu cuối như một tiếng thở dài buông xuôi theo dòng đời.

Hai câu kết thể hiện rõ sự ngán ngẩm, buông xuôi sau mọi cố gắng vùng lên của người phụ nữ.

3. Tổng kết nội dung - nghệ thuật bài thơ Tự Tình 

3.1. Về nội dung

Nội dung của Tự Tình là diễn biến tâm trạng tình cảm của nhân vật trữ tình trong bài thơ. Từ cô đơn, bẽ bàng đến xót xa, cay đắng. Tiếp đó là phẫn uất và phản kháng, tuy nhiên sau cùng chỉ có thể ngán ngẫm, buông xuôi.

Bài thơ còn có những ý nghĩa nhân văn sâu sắc đáng trân trọng như một "cái tôi" cá nhân ý thức về ý nghĩa của đời người, của tuổi trẻ, tình yêu, hạnh phúc. Hồ Xuân Hương còn mạnh dạn nói lên tâm sự sâu kín của người phụ nữ trong xã hội xưa về hạnh phúc. Dường như hạnh phúc với họ là một chiếc chăn quá hẹp. Bài thơ còn khẳng định quyết định vượt lên số phận và niềm khao khát hạnh phúc của người phụ nữ ngay cả khi rơi vào hoàn cảnh bi kịch.

Người phụ nữ luôn muốn vượt lên số phận và khao khát hạnh phúc ngay cả khi rơi vào hoàn cảnh bi kịch

3.2. Về nghệ thuật

Đây là bài thơ Đường luật cổ điển được viết bằng ngôn ngữ Tiếng Việt bình dân và rất tự nhiên. Tự Tình có từ ngữ giản dị mà đa nghĩa; hình ảnh thơ rất gợi cảm. Nhà thơ còn áp dụng các biện phán tu từ được sử dụng rất thành công như: Đảo ngữ, ẩn dụ, tăng tiến…

4. Luyện tập 

Học sinh có thể so sánh và tìm điểm tương đồng thú vị giữa ba nhà thơ Xuân Hương, Xuân Diệu và Xuân Quỳnh qua các vần thơ sau:

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con

(Tự Tình - Hồ Xuân Hương)

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn 

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

(Vội Vàng - Xuân Diệu)

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa

(Sóng - Xuân Quỳnh)

-------------------------------

Hy vọng bài viết giúp các em cảm nhận rõ về nỗi lòng và số phận người phụ nữ trong xã hội xưa cũng như khát khao tìm được hạnh phúc ngay cả khi rơi vào hoàn cảnh bi kịch.