Picture of the author
Picture of the author
SGK CD Ngữ Văn 10»Bài 3: Kịch Bản Chèo Và Tuồng»Bài 4: Thị Mầu Lên Chùa

Bài 4: Thị Mầu Lên Chùa

Lý thuyết bài Thị Mầu Lên Chùa môn Văn 10 bộ sách CD bao gồm bố cục, hoàn cảnh sáng tác, giá trị nội dung, nghệ thuật và tóm tắt nội dung một cách đầy đủ, dễ hiểu.

Xem thêm

I. Chuẩn bị

1. Chuẩn bị

Đọc trước văn bản Thị Mầu lên chùa.

Hình ảnh Thị Mầu lên chùa (sgk Cánh Diều Ngữ Văn 10 tập 1) trong bức ảnh trên gợi cho em ấn tượng như thế nào?

Gợi ý:

Hình ảnh Thị Mầu lên chùa trong bức ảnh trên gợi cho em ấn tượng về một cô gái xinh đẹp, thướt tha nữ tính, có phần lả lướt, lẳng lơ.

2. Tác giả tác phẩm

a. Tác giả

b.Tác phẩm

Tóm tắt vở chèo Quan Âm Thị Kính

Thiện Sĩ, con của Sùng Ông, Sùng Bà, kết duyên cùng Thị Kính, con gái của Mãng Ông. Một đêm, Thị Kính ngồi khâu, chồng đọc sách rồi thiu thiu ngủ bên cạnh, Thị Kính thấy chồng có sợi râu mọc ngược nên cầm dao toan xén đi. Thiện Sĩ giật mình, vội hô hoán lên, cha mẹ chồng chạy vào đổ cho nàng có ý định giết chồng và đuổi Thị Kính về nhà bố đẻ. Thị Kính giả trai, vào tu ở chùa Vân Tự, được thầy đặt pháp danh là Kính Tâm. Thị Mầu, con gái phú ông vốn lẳng lơ, ve vãn Kính Tâm nhưng không được. Thị Mầu có thai với Nô – người ở nhà phú ông. Bị làng bắt vạ, Thị Mầu đổ cho Tiểu Kính. Kính Tâm bị đuổi ra tam quan. Thị Mầu đem con bỏ cho Kính Tâm. Tiểu Kính hằng ngày đi xin sữa để nuôi con của Thị Mầu. Sau ba năm, Tiểu Kính để lại thư kể rõ sự tỉnh rồi mất. Sư cụ cùng mọi người lập đàn giải oan cho Kính Tâm để nàng được siêu thoát.

Đoạn trích

Nằm ở phần giữa vở chèo kể về Thị Mầu lên chùa lẳng lơ, ve vãn, bày tỏ tình cảm với tiểu  Kính Tâm.

II. Đọc hiểu văn bản Thị Mầu lên chùa - Ngữ Văn 10 CD

1. Đọc văn bản

2. Trả lời câu hỏi phần đọc hiểu

Câu 1 trang 75 tập 1 Ngữ Văn 10 CD

Chú ý ngôn ngữ, hình ảnh của các nhân vật và chỉ dẫn sân khấu

Gợi ý:

Chỉ dẫn sân khấu:  

(Thị Mầu: ra nói; đế; hát; xưng danh; đế; hát ghẹo tiểu; nói; Tiểu Kính bỏ chạy; nấp; xông ra, nắm tay tiểu kính; Tiểu Kính bỏ chạy; đế; hát; hạ Tiểu Kính: tụng kinh; ra, nói)

Hành động của Thị Mầu: xông ra nắm tay chú tiểu

Ngôn ngữ thể hiện Thị Mầu: của người lẳng lơ, thấy chú tiểu đẹp thì mê, mà mê thì ghẹo, mà ghẹo thì ghẹo tới nơi tới chốn. Thị mầu ghẹo tiểu được diễn tả bằng chính hai điệu hát “Cấm giá” và “Bình thảo”

  • “Cấm gía” vì Thị Mầu mới ve vãn nên câu thơ còn e ấp tế nhị:

“Tôi lên chùa thấy tiểu mười ba

Thấy sư mười bốn vãi già mười lăm

Tôi muốn cho một tháng đôi rằm”

  • “Bình thảo” khi mà sự ve vãn bên ngoài không có kết quả, khi mà Thị Mầu đã bốc lửa, Thị Mầu muốn đốt cháy với chú tiểu thì lời ca trong điệu hát không còn ngọt ngào:

“Người đâu ở chùa này

Cổ cao ba ngấn, lông mày nét ngang

Ấy mấy thầy tiểu ơi”

“Thầy như táo rụng sân đình

                 Em như gái rở, đi rình của chua"                

Ngôn ngữ, hành động của Tiểu Kính: Giữ khoảng cách, tìm cách từ chối, lẩn tránh, lúc nào cũng tụng kinh “Niệm Nam mô A Di Đà Phật!”

Câu 2 trang 76 tập 1 Ngữ Văn 10 CD

Thị Mầu lên chùa có gì khác với lệ thường? Chú ý các con số trong lời nói và câu hát của Thị Mầu

Gợi ý:

Thị Mầu lên chùa khác với lệ thường là: Người ta lên chùa vào mười tư, rằm; còn Thị Mầu lên chùa mười ba.

Các con số trong lời nói và câu hát của Thị Mầu là: mười ba, mười bốn, mười lăm.

Câu 3 trang 76 tập 1 Ngữ Văn 10 CD

Trong lời giới thiệu với chú tiểu, Thị Mầu đặc biệt nhấn mạnh thông tin gì?

Gợi ý:

Trong lời giới thiệu với chú tiểu, Thị Mầu đặc biệt nhấn mạnh thông tin “chưa chồng”

“Tuổi vừa đôi tám, chưa chồng đấy thầy tiểu ơi!

Chưa chồng đây nhá!”

Câu 4 trang 77 tập 1 Ngữ Văn 10 CD

Thị Mầu có quan tâm đến việc vào lễ Phật không? Chú ý hành động, ngôn ngữ bày tỏ tình cảm của Thị Mầu

Gợi ý:

Thị Mầu không quan tâm đến việc vào lễ Phật.

Hành động, ngôn ngữ bày tỏ tình cảm của Thị Mầu được thể hiện qua câu:

“Người đâu ở chùa này

Cổ cao ba ngấn, lông mày nét ngang

Ấy mấy thầy tiểu ơi”

“Thầy như táo rụng sân đình

Em như gái rở, đi rình của chua”.

Câu 5 trang 77 tập 1 Ngữ Văn 10 CD

Phép so sánh trong lời của Thị Mầu có gì độc đáo?

Gợi ý:

Lối nói ví von so sánh thể hiện khát khao yêu đương của Thị Mầu.

“Thầy như táo rụng sân đình

Em như gái rở, đi rình của chua”

  • Cây táo mọc ở sân đình thường cao, sau mùa xuân chín rụng. Vì ít được chăm sóc lại già cỗi nên táo vừa chua, vừa chát.
  • Còn người phụ nữ nghén, người đời gọi là gái rở, thường thèm của chua, thèm đến xót lòng.

⇒ Người đàn bà ăn dở mà gặp quả táo, hơn nữa lại là rụng mà rụng ở sân đình thì nỗi khát khao thèm muốn càng tăng thêm gấp bội. Nhặt quả táo lên chắc người con gái ăn dở ấy phải nhai nuốt ngấu nghiến.

⇒ Việc Thị Mầu ví mình như gái rở, ví tiểu Kính như táo rụng sân đình thì hình ảnh vừa thật vừa rõ nét mà vừa dễ hiểu cho người xem.

Câu 6 trang 78 tập 1 Ngữ Văn 10 CD

Những câu hát trong phần này đều tập trung thể hiện điều gì?  Câu “Trúc xinh [...] chẳng xinh!" có gì khác với ca dao

Gợi ý:

Những câu hát trong phần này tập trung thể hiện nỗi lòng, khát khao hạnh phúc của Thị Mầu nhưng lại bị chú tiểu ngó lơ.

Câu ca dao:

“Trúc xinh trúc mọc đầu đinh

Em xinh em đứng một mình cũng xinh.”

⇒ So sánh hình dáng cây trúc với người phụ nữ Việt Nam trẻ trung, mong manh và xinh đẹp cho dù đứng ở đâu, dù ở góc độ nào vẫn xinh.

  • Trong vở chèo Thị Mầu lên chùa

“Trúc xinh trúc mọc sân đình

Em xinh em đứng một mình chẳng xinh.”

⇒ Ở trong câu ca dao người phụ nữ đứng một mình, dù đứng ở đâu, góc độ nào vẫn xinh; còn trong vở chèo Thị Mầu thì nó được biến tấu đi, nhằm ghẹo chú tiểu, ẩn ý người phụ nữ xinh đẹp cần phải có đôi có cặp mới xinh, còn đứng một mình sẽ không xinh.

Câu 7 trang 79 tập 1 Ngữ Văn 10 CD

Đoạn trích có những chỉ dẫn sân khấu nào? Tác dụng của các chỉ dẫn đó với người đọc là gì?

Gợi ý:

(Thị Mầu: ra nói; đế; hát; xưng danh; đế; hát ghẹo tiểu; nói; Tiểu Kính bỏ chạy; nấp; xông ra, nắm tay tiểu kính; Tiểu Kính bỏ chạy; đế; hát; hạ Tiểu Kính: tụng kinh; ra, nói)

Hành động của Thị Mầu: xông ra nắm tay chú tiểu

Ngôn ngữ thể hiện Thị Mầu: của người lẳng lơ, thấy chú tiểu đẹp thì mê, mà mê thì ghẹo, mà ghẹo thì ghẹo tới nơi tới chốn. Thị mầu ghẹo tiểu được diễn tả bằng chính hai điệu hát “Cấm giá” và “Bình thảo”

  • “Cấm gía” vì Thị Mầu mới ve vãn nên câu thơ còn e ấp tế nhị:

“Tôi lên chùa thấy tiểu mười ba

Thấy sư mười bốn vãi già mười lăm

Tôi muốn cho một tháng đôi rằm”

  • “Bình thảo” khi mà sự ve vãn bên ngoài không có kết quả, khi mà Thị Mầu đã bốc lửa, Thị Mầu muốn đốt cháy với chú tiểu thì lời ca trong điệu hát không còn ngọt ngào:

“Người đâu ở chùa này

Cổ cao ba ngấn, lông mày nét ngang

Ấy mấy thầy tiểu ơi”

“Thầy như táo rụng sân đình

                 Em như gái rở, đi rình của chua"             

Tác dụng: Giúp người đọc hiểu đựơc nghĩa của các từ mới, giúp người đọc hiểu được cách thức, cũng như trình tự trình diễn của các nhân vật, từ đó theo dõi và hiểu được nội dung toàn bộ vở chèo.

III. Suy ngẫm và phản hồi văn bản Thị Mầu lên chùa - Ngữ Văn 10 CD

1. Nhân vật Thị Mầu

a. Lời nhân vật tự giới thiệu

Tôi Thị Mu con gái phú ông

Thầy mẹ tôi tôn kính một lòng.


Là Thị Mầu con gái phú ông

Tuổi vừa đôi tám, chưa chồng…

⇒ Nhân vật tự xưng tên, tuổi, ý thức rõ về con người mình (hiếu thuận, chưa chồng)

⇒ Cách giới thiệu nhân vật thường thấy trong chèo

⇒ Thị Mầu là kiểu nhân vật tiêu biểu của chèo, là một người bình thường, không xa lạ với đời sống lao động nhân dân

b. Ngoại hình (qua bức tranh)

thi-mau-len-chua

Áo váy lộng lẫy, tung bay theo những vòng múa cuồng nhiệt: áo màu cánh sen, yếm thắm, khăn xanh rực rỡ

⇒ Vẻ đẹp đầy nhựa sống, khao khát yêu đương

c. Ngôn ngữ, hành động của Thị Mầu khi bày tỏ tình cảm với chú tiểu

Khen đẹp như sao băng…=> ngây ngất trước vẻ đẹp của Thị Kính

Lời nói, câu hát bóng gió, ẩn ý đầy chất dân gian để “đánh” đi những lượng tin cần thiết mà da diết về phía chú tiểu:

Chưa chồng đấy thầy tiểu ơi ; Thầy như táo rụng sân đình – Em như gái rở, đi rình của chua => khát khao, thèm muốn yêu đương, đã yêu nhau thì phải chủ động bày tỏ, tìm cách thỏa mãn nhu cầu gặp gỡ, ái ân.

Một cành tre, năm bảy cành tre

Phải duyên thời lấy, chớ nghe họ hàng

Ấy mấy thầy tiểu ơi!...

Mẫu đơn giồng cạnh nhà thờ

Đôi ta chỉ quyết đợi chờ lấy nhau.

⇒ Lời tỏ tình ấy chứa chan mong ước về tự do yêu đương, tự do lựa chọn hôn nhân.

⇒ Thị Mầu cất lên tiếng nói nữ quyền để lật đổ thành trì lễ giáo cũ kĩ đã trở thành giáo điều, đạp đổ những lệ làng, những đạo đức giả, những quan niệm cổ hủ chà đạp lên thân phận và tước đoạt hạnh phúc con người.

⇒ Trong dòng nghĩ suy qua lời hát ghẹo của Thị Mầu đã ẩn chứa khát khao chung tình – khao khát chính đáng trong tình yêu.

Trúc xinh trúc mọc sân đình

Em xinh em đứng một mình chẳng xinh

⇒ Thị Mầu ẩn ý người phụ nữ xinh đẹp cần phải có đôi có cặp mới xinh

⇒ cách nói biến tấu, sáng tạo từ ca dao.

Tiếng gọi thầy tiểu ơi lặp đi lặp lại nhiều lần đã bộc lộ nỗi lòng say mê, yêu thương tha thiết của Thị Mầu.

Nắm tay Tiểu Kính, đòi quét chùa thay Tiểu Kính, lại còn mời mọc => táo bạo, mãnh liệt, quyết tâm.

Tỏ tình liều lĩnh, bất chấp sự gièm pha  Lẳng lơ đây cũng chẳng mòn – Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ

2. Những tiếng đế (của nhân dân - tác giả dân gian) và lời đáp của Thị Mầu

Những tiếng đế: đại diện cho quan điểm của một số người xem Thị Mầu chủ động bộc lộ tình yêu, tự quyết tình yêu trong văn bản là hành động dơ bẩn, đáng chê cười, thậm chí phê phán.

Lời đáp của Thị Mầu:  nhấn mạnh sự lẳng lơ, yêu đương say đắm và dữ dội của Thị Mầu

⇒ Những lời đế ấy không chỉ giúp Mầu thể hiện rõ bản thân của mình mà còn khiến giá trị của những yếu tố trong vở chèo dân gian là cách dùng gậy ông lại đập lưng ông mà văn học dân gian rất thiện nghệ để phê phán, hơn nữa, bóc trần cái đạo đức giả của đạo đức quan phong kiến

⇒ Lưu ý: Việc bày tỏ tình cảm của Thị Mầu là chính đáng. Tuy nhiên, nếu xét trong bối cảnh mà nhân vật xuất hiện (trong chùa – chốn tôn nghiêm) và đối tượng nhân vật thể hiện tình cảm (chú tiểu trong chùa), cách bộc lộ tình cảm và hành động của nhân vật có phần chưa phù hợp.

Đánh giá chung về  Thị Mầu:

  • Là người con gái đẹp, lẳng lơ, táo bạo, mãnh liệt, quyết tâm.
  • Dám yêu, dám lên tiếng vì tình yêu, khát khao yêu đương tự do.
  • Diện mạo, tính cách nhân vật được khắc họa nổi bật trong bối cảnh lên chùa, lời nói, hành động

3. Nhân vật Thị Kính

Ngôn ngữ: lúc nào cũng tụng kinh Nam mô a di Đà Phật.

Hành động: giữ khoảng cách, từ chối, lẩn tránh…( tụng kinh, bỏ chạy…)

⇒ Nhân vật Tiểu Kính mang vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống, là người hướng Phật, nhân ái, bao dung, nhẫn nhịn, hiểu lễ nghi, phép tắc

IV. Luyện tập

Câu 1. Theo em nhân vật Thị Mầu là người như thế nào? Hãy viết một đoạn văn (khoảng 6-8 dòng) nêu lên nhận xét của mình về nhân vật này

Đoạn văn tham khảo

Thị Mầu là người con gái có cá tính riêng, dám vượt qua khuôn khổ vốn có của Nho Giáo để bày tỏ và thể hiện mình, Thị Mầu như đại diện cho bao nỗi khát vọng của người phụ nữ xưa. Tuy những hành động của Mầu trong chùa là điều không nên làm nhưng bởi sự hối thúc, khao khát của tình yêu mà lí trí bị lu mờ.

Nhân vật Thị Mầu trong chèo cổ biểu hiện cho một phẩm chất khác của người phụ nữ Việt Nam đó là khát khao yêu đương. Đây là quyền cơ bản của người phụ nữ nói riêng và con người nói chung. Khi lớn lên phải được tự do tìm hiểu, yêu đương và phải lấy người mình yêu. Nhưng đối lập với quyền ấy trong xã hội phong kiến là một lớp sơn đạo đức giả tạo của chế độ hà khắc để trói buộc bao người phụ nữ phải tuân theo “tam tòng” , “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” chứ không được lựa chọn tình yêu và hạnh phúc của riêng mình. Cô ý thức tự do trong tình yêu bộc lộ ở lời nhủ mình và khuyên chị em chớ nghe họ hàng. Thị Mầu là con người của nghệ thuật.

Câu 2. Em biết những tác phẩm văn học nào lấy cảm hứng từ hình tượng nhân vật Thị Mầu trong vở chèo Quan Âm Thị Kính

Gợi ý:

Thị Mầu, Lẳng lơ Thị Mầu, Cãi,... (Trong tập Cưới thơ của Hoàn Nguyễn)

Thị Màu (Anh Ngọc)

Này em Thị Mầu (Ngân Vịnh)


Biên soạn: GV Nguyễn Duy Tuấn

SĐT: 0945 441181

Đơn vị: Trung Tâm Đức Trí - 0286 6540419

Địa chỉ: 26/5 đường số 4, KP 3, P. Bình Hưng Hòa A, Q. Bình Tân, TP. HCM

Fanpage: https://www.fb.com/ttductri

Tác giả: Nguyễn Duy Tuấn

Bài 3: Mắc Mưu Thị Hến
Bài 5: Thực Hành Tiếng Việt Trang 80