Các đại biểu đề nghị gắn ưu đãi với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư, xây dựng tiêu chí đo lường hiệu quả dự án, tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
Bên cạnh đó, cần làm rõ cơ chế thu hồi hỗ trợ, bảo đảm minh bạch trong lựa chọn nhà đầu tư và quản lý dữ liệu trên Cổng một cửa đầu tư quốc gia.
Đại biểu Nguyễn Văn Huy (Hưng Yên) cho rằng, dự thảo đã quy định nguyên tắc áp dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt trên cơ sở kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh và nâng cao giá trị gia tăng trong nước. Tuy nhiên, các quy định về đánh giá mức độ hoàn thành cam kết và xử lý khi nhà đầu tư không thực hiện đầy đủ vẫn chưa cụ thể.
“Dự thảo chưa làm rõ mức độ thực hiện cam kết như thế nào thì được coi là đạt yêu cầu. Trường hợp chỉ thực hiện một phần cam kết thì sẽ xử lý ra sao? Việc thu hồi ưu đãi được áp dụng đối với toàn bộ hay chỉ một phần ưu đãi tương ứng với những nội dung không hoàn thành?”, đại biểu đặt vấn đề.
Theo đại biểu, một dự án công nghệ cao được hưởng ưu đãi lớn nhưng không đạt cam kết về đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung cấp trong nước. Nếu chỉ căn cứ vào vốn giải ngân và sản lượng thì dự án vẫn có thể được đánh giá thành công, dù lợi ích lan tỏa chưa đạt yêu cầu.
Đại biểu đề nghị bổ sung quy định đánh giá theo từng cam kết, mức độ hoàn thành và trách nhiệm xử lý tương ứng; giao Chính phủ quy định việc điều chỉnh, thu hồi ưu đãi phù hợp với mức độ vi phạm. Cách tiếp cận này vừa tránh cứng nhắc với nhà đầu tư, vừa bảo đảm các cam kết thực sự được thực hiện.
Một nội dung khác được đại biểu Nguyễn Văn Huy lưu ý là cần có tiêu chí cụ thể đánh giá hiệu quả thực chất của dự án đầu tư. Theo đại biểu, hai dự án có cùng quy mô vốn nhưng mức độ đóng góp cho nền kinh tế có thể rất khác nhau: một dự án chủ yếu gia công, nhập khẩu linh kiện, trong khi dự án khác có hoạt động nghiên cứu và phát triển, đào tạo kỹ sư, sử dụng nhà cung cấp trong nước.
“Nếu chỉ nhìn vào vốn đăng ký và kim ngạch xuất khẩu thì chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt về đóng góp cho nền kinh tế”, đại biểu nhấn mạnh.
Vì vậy, đại biểu đề nghị Chính phủ ban hành tiêu chí đánh giá theo từng ngành, lĩnh vực, trong đó chú trọng giá trị gia tăng trong nước, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, chất lượng nhân lực, liên kết doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng tài nguyên. Kết quả đánh giá cần là căn cứ xem xét tiếp tục áp dụng hoặc điều chỉnh ưu đãi đầu tư.
Về liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, đại biểu cho rằng các quy định hiện nay chủ yếu dừng ở khuyến khích công bố thông tin và hỗ trợ theo cam kết, chưa thể hiện rõ trách nhiệm kết nối, hỗ trợ nâng cấp năng lực của nhà cung cấp nội địa cũng như đánh giá kết quả liên kết sau khi dự án đi vào hoạt động.
Thực tế, có thể phát sinh tình huống doanh nghiệp trong nước có năng lực sản xuất nhưng không tiếp cận được thông tin, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình kiểm định hoặc kế hoạch lựa chọn nhà cung cấp của doanh nghiệp FDI. Trong khi đó, doanh nghiệp FDI vẫn có thể tiếp tục nhập khẩu linh kiện, nguyên liệu từ các nhà cung cấp nước ngoài. Khi đó, vốn đầu tư và kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng mối liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn hạn chế, khiến tác động lan tỏa chưa tương xứng với ưu đãi được hưởng.
Đại biểu đề nghị bổ sung cơ chế hỗ trợ nâng cao năng lực nhà cung cấp nội địa, xác định kết quả liên kết thành chỉ tiêu có thể kiểm chứng; đồng thời tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý đầu tư, cơ quan quản lý ngành, địa phương và các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp để kết nối nhu cầu của doanh nghiệp đầu chuỗi với năng lực của doanh nghiệp trong nước, ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Cùng quan tâm đến cơ chế thực hiện và kiểm soát ưu đãi đầu tư, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Phòng) đề nghị làm rõ kết quả đầu ra, thời điểm kiểm chứng và trách nhiệm xác nhận đối với từng nhóm cam kết tại Điều 17 của dự thảo luật.
Theo đại biểu, chi phí đào tạo có đủ chứng từ chưa tự nó chứng minh người lao động đã đạt kỹ năng cam kết. Tương tự, chi phí tư vấn, cải tiến kỹ thuật đã phát sinh hợp lệ cũng chưa chứng minh doanh nghiệp trong nước đã nâng cao được năng lực sản xuất. Đối với chuyển giao công nghệ, kết quả cần được đánh giá thông qua khả năng tiếp nhận, khai thác và sử dụng của bên nhận.
“Các bên phải biết rõ kết quả nào cần đạt, được đánh giá vào thời điểm nào và cơ quan nào chịu trách nhiệm xác nhận”, đại biểu nêu rõ.
Đại biểu đề nghị làm rõ trong quy định hướng dẫn Điều 17 việc xác định kết quả đầu ra, phương pháp, thời điểm kiểm chứng và chủ thể xác nhận theo từng loại hình hỗ trợ. Những yêu cầu này cần được xác định trong hồ sơ làm căn cứ quyết định hỗ trợ, giúp doanh nghiệp dự báo nghĩa vụ và cơ quan thực hiện có căn cứ đánh giá thống nhất.
Đặc biệt, đại biểu lưu ý cần phân biệt điều kiện bắt buộc để hưởng chính sách với những chỉ tiêu cam kết có thể thực hiện theo từng giai đoạn, hạng mục. Trường hợp nhà đầu tư không đáp ứng điều kiện bắt buộc thì phải thu hồi khoản hỗ trợ đã hưởng không đúng. Tuy nhiên, đối với các chỉ tiêu có thể tách riêng theo giai đoạn, hạng mục, cần xác định khoản hỗ trợ tương ứng bị điều chỉnh, thu hồi, tránh việc không hoàn thành một chỉ tiêu dẫn đến thu hồi toàn bộ khoản hỗ trợ cho những hạng mục độc lập đã thực hiện đúng.
Về thu hút đầu tư giữa các địa phương, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị gắn yêu cầu liên kết vùng với trách nhiệm theo dõi, đánh giá cụ thể. Cơ quan đầu mối cần tổng hợp chính sách hỗ trợ của các địa phương, đánh giá tác động liên vùng và kịp thời kiến nghị xử lý những chính sách hoặc cách thực hiện không phù hợp.
Theo đại biểu, hiệu quả thu hút đầu tư cần được đánh giá cả về chất lượng dự án, hiệu quả sử dụng đất, tài nguyên, ngân sách và đóng góp vào chuỗi giá trị của vùng. Qua đó, khuyến khích các địa phương cạnh tranh bằng hạ tầng, nhân lực, dịch vụ công và trách nhiệm đồng hành, hạn chế việc chạy theo số dự án, số vốn thu hút về từng địa bàn.
Đối với khoản hỗ trợ đào tạo từ ngân sách địa phương, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc công khai những thông tin tối thiểu về đối tượng nhận hỗ trợ, mục tiêu, số kinh phí và kết quả thực hiện, đồng thời loại trừ phần thông tin được pháp luật bảo vệ.
Đại biểu cho rằng cần phân biệt thông tin đang trong quá trình đàm phán với quyết định hỗ trợ đã ban hành và kinh phí đã thực chi. Việc công khai phù hợp sẽ giúp kiểm soát hỗ trợ trùng lặp, đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách và tạo cơ sở để các địa phương điều chỉnh chính sách.
Đóng góp ý kiến về tính minh bạch trong hoạt động đầu tư, đại biểu Hầu A Lềnh (Lào Cai) đề nghị làm rõ phạm vi áp dụng các trường hợp lựa chọn nhà đầu tư không thông qua đấu giá, đấu thầu tại Điều 23.
Theo đại biểu, dự thảo bổ sung quy định về trường hợp khác theo quy định của pháp luật nhưng chưa làm rõ phạm vi, điều kiện áp dụng. Quy định khái quát này có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau, ảnh hưởng đến tính minh bạch trong việc chấp thuận chủ trương đầu tư và chấp thuận nhà đầu tư mà không thông qua đấu giá, đấu thầu.
Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ căn cứ, phạm vi áp dụng, bảo đảm các trường hợp ngoại lệ có cơ sở pháp lý cụ thể, thống nhất với pháp luật chuyên ngành, hạn chế mở rộng các trường hợp không qua đấu giá, đấu thầu khi chưa xác định rõ điều kiện.
Đối với việc xây dựng Cổng một cửa đầu tư quốc gia tại Điều 46, đại biểu cho rằng cần làm rõ giá trị pháp lý, phạm vi sử dụng của dữ liệu trên hệ thống và nguyên tắc xử lý khi thông tin không thống nhất với quyết định, giấy chứng nhận hoặc hồ sơ pháp lý do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Đồng thời, cần phân định trách nhiệm cập nhật, kiểm tra, xác thực, đính chính thông tin; làm rõ nguyên tắc thu phí khai thác dữ liệu, bảo đảm phù hợp với pháp luật về phí, lệ phí và không phát sinh chi phí không cần thiết.
(TTXVN)























