Xung quanh vấn đề này, phóng viên Đài đã có cuộc phỏng vấn PGS-TS Trần Hồng Thái, Chánh Văn phòng chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu - Phó tổng giám đốc Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia.
* Thưa Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, nước ta có hơn 3.200 km bờ biển và hệ thống các đảo với đặc trưng địa hình, khí hậu, sinh thái đa dạng và phong phú. Phần lớn cư dân tạp trung ở những vùng đất thấp và các đô thị ven biển, có nhiều cơ sở hạ tầng, các công trình xây dựng và những hoạt động kinh tế sôi động, nước biển dâng sẽ trở thành hiểm họa như thế nào đối với các vùng đất này?
![]() |
| GS.TS Trần Hồng Thái tại một buổi thông tin chung về biến đổi khí hậu. Ảnh: LĐXH |
- PGS-TS Trần Hồng Thái: Nước biển dâng thì sẽ gây nhiều tác động đến dân cư cũng như là các vùng ven biển, hiện tượng mất đất, ngập lụt theo kịch bản biến đổi khí hậu năm 2100, theo kịch bản cao, nước biển dâng lên 1 mét ĐBSCL mất khoảng 38% diện tích, miền Trung sẽ mất khoảng 45%, ĐBSH mất 10% diện tích. Vùng sát biển là vùng phát triển kinh tế xã hội, nuôi trồng thủy sản, phát triển du lịch cán cân kinh tế sẽ bị tác động lớn. Một hậu quả còn lớn hơn nữa là xâm nhập mặn sâu vào trong đất liền làm cho nguồn nước cho trồng trọt sẽ bị ảnh hưởng nặng.
* Hiện nay, chúng ta đã có những kịch bản biến đổi khí hậu và rất nhiều địa phương đang triển khai các hoạt động ứng phó, cho đến nay, những hoạt động này đã có sự kết nối như thế nào và phát huy tác dụng ra sao?
- PGS-TS Trần Hồng Thái: Chúng ta đã có kịch bản 2009 năm 2012 chúng ta đã cập nhật kịch bản với độ chi tiết hơn không chỉ là giá trị trung bình mà là những giá trị theo tháng, theo mùa lượng mưa, bốc hơi, nước biển được tính toán không chỉ cho Việt Nam mà đã chi cho 8 khu vực dọc theo bờ biển, làm cơ sở để đánh giá tác động các ngành, các lĩnh vực và các khu vực. Phần lớn các ngành các địa phương đã có kế hoạch hành động cụ thể để hành động ứng phó với biến đổi khí hậu. gần đây thì chúng ta đã có nghị quyết của trung ương liên quan đến biến đổi khí hậu. Chúng ta đã có những kết quả rất rõ ràng chỉ ra được rõ ràng những tác động của biến đổi khí hậu giúp cho các nhà hoạch định chính sách đưa ra những quyết định lồng ghép vào các hoạt động phát triển kinh tế, xây dựng chiến lược kế hoạch tầm quốc gia và khu vực. Tôi nghĩ rằng trong thời gian vừa qua chúng ta đã làm được rất nhiều việc, đào tạo được một đội ngũ các nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia tư vấn những người có tầm hiểu biết sâu hơn về biến đổi khí hậu, từ đó có hành động tăng cường năng lực thể chế về biến đổi khí hậu và Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia chủ động về ứng phó với biến đổi khí hậu.
* Như ông đã nói, nước ta hiện được đánh giá là quốc gia khá chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và nhiều người dân hiện đã nhận thức rất rõ những tác động của vấn đề này đến đời sống khi xâm nhập mặn ngày càng sâu, nhiều loài động thực vật đã biến đổi cũng như thiên tai ngày càng khắc nghiệt, tuy nhiên ở các vùng ven biển và hải đảo vẫn tiếp tục tồn tại những thách thức về mặt môi trường như việc khai thác hải sản thiếu bền vững, rác thải, nước thải chưa qua xử lý.... Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?
- PGS-TS Trần Hồng Thái: Tôi đồng ý mặc dù chúng đã có rất nhiều nỗ lực về mặt tuyên truyền để bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai ứng phó với biến đổi khí hậu nhưng ở một số nơi, vùng sâu vùng xa thì hiểu biết còn nhiều hạn chế cần nhiều kế hoạch dài hơi hơn đẩy mạnh công tác tuyên truyền. Trong thời gian vừa qua chúng tôi cũng đã có những cố gắng nhưng cũng còn nhiều hạn chế do vậy tôi nghĩ trong thời gian tới chúng tôi vẫn cần những sự giúp sức từ Đài Báo và từ những đồng nghiệp của chúng tôi để việc truyên truyền nâng cao nhận thức hiệu quả hơn.
* Và cuối cùng, theo ông, mỗi người cần phải hành động như thế nào để góp phần giảm nhẹ những tác động do nước biển dâng?
- PGS-TS Trần Hồng Thái: Muốn giảm nhẹ tác động của nước biển dâng thì trước hết chúng ta cùng chung tay giảm nhẹ biến đổi khí hậu những nguyên nhân gây ra nó đó là khí nhà kính, cần sử dụng năng lượng tiết kiệm, có lối sống dùng năng lượng ít,với cơ quan quản lý nhà nước cần đưa ra những chủ trương chính sách khuyến khích sử dụng những nguồn năng lượng mới, tạo điều kiện cơ chế để doanh nghiệp có thể dùng những công nghệ bảo vệ môi trường, về phía doanh nghiệp thì cũng chung tay cùng đất nước ưu tiên sử dụng công nghệ sạch, tuân thủ nghiêm túc những quy định về bảo vệ môi trường. Về phía chúng tôi sẽ làm tốt hơn công tác dự báo thiên tai, thông tin kịp thời đến cho cộng đồng người dân để từ đó chúng ta có những biện pháp ứng phó kịp thời.
* Xin cảm ông.

