Nghị định số 346/2026 sửa đổi, bổ sung quy định về mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp tại Điều 19. Trong đó, cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo: Hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm nông nghiệp (hiện nay là 90%).
Cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo: Hỗ trợ tối đa 50% phí bảo hiểm nông nghiệp (hiện là 20%).
Tổ chức sản xuất nông nghiệp: Hỗ trợ tối đa 30% phí bảo hiểm nông nghiệp (tăng 10% so với hiện nay) cho doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã khi đáp ứng các quy định.
Một trong những điểm mới đáng chú ý của Nghị định 346/2026 là việc sửa đổi quy định về các loại hình sản phẩm bảo hiểm và bổ sung thêm quy định về nguồn cung cấp chỉ số đối với bảo hiểm theo chỉ số thời tiết và chỉ số viễn thám.
Theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường theo biến động của chỉ số thời tiết và chỉ số viễn thám theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp, không phụ thuộc vào tổn thất thực tế của đối tượng bảo hiểm.
Về đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ, ngoài 3 đối tượng đã được quy định tại Điều 18 Nghị định số 58/2018 gồm: Cây trồng (lúa, cao su, hồ tiêu, điều, cà phê, cây ăn quả, rau); Vật nuôi (trâu, bò, lợn, gia cầm); Nuôi trồng thủy sản (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra), Nghị định 346/2026 còn bổ sung thêm đối tượng thứ 4 được hỗ trợ là: Đối tượng bảo hiểm khác bao gồm cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản, cây lâm nghiệp chính, chủ lực thuộc danh mục do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương công bố.
Điều này sẽ giúp các tỉnh, thành chủ động hơn trong việc xây dựng chính sách bảo hiểm phù hợp với đặc thù sản xuất của mình.
Đáng chú ý, thẩm quyền quyết định địa bàn, đối tượng, loại rủi ro và mức hỗ trợ cũng được phân cấp cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, nhằm giúp chính sách phù hợp hơn với điều kiện sản xuất thực tế tại từng địa phương.
Nghị định sẽ có hiệu lực từ ngày 20/10/20206.

