Bình luận: Dân số Việt Nam và những điều cần suy ngẫm

(VOH) - Cách nay vừa tròn 50 năm, giữa lúc đất nước còn chia cắt - miền Bắc đi lên CNXH và là hậu phương vững chắc cho miền Nam đấu tranh giải phóng dân tộc thì Hội đồng Chính Phủ - nay là Chính Phủ, đã thông qua Quyết định số 216/CP ngày 26/12/1961 về hướng dẫn thực hiện sinh đẻ có kế hoạch và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em.
Chúng ta đang sở hữu tỷ lệ dân số vàng đáng phấn khởi. Ảnh: Tiền phong

Năm 1997, Thủ tướng Chính Phủ đã quyết định lấy ngày 26/12 hàng năm làm ngày dân số VN. 50 năm qua công tác dân số kế hoạch hóa gia đình( DS-KHHGĐ) luôn được xem là quốc sách hàng đầu cho chiến lược phát triển KTXH của đất nước. Và cũng nhờ vậy mà trong nhiều năm liền, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đã liên tục giảm:  năm 1979 là 2,2; 1989 còn 2,1%, 1999 là 1,7% và 2009 còn 1,2%.

Thật là những con số đầy khích lệ, song công tác DS-KHHGĐ của nước ta vẫn còn đó các thách thức và quan  ngại. Theo số liệu của Tổng cục thống kê đưa ra ngày 1/4/2010, dân số cả nước đã lên tới gần 87 triệu người và vào thời điểm này chắc chắn đã tròm trèm 88 triệu, bởi bình quân mỗi năm VN có  thêm 910.000 công dân mới chào đời. Vậy là trên bản đồ dân số Thế giới, chúng ta là Quốc gia đông dân thứ 13 và đứng hàng thứ 3 tại Đông Nam Á, chỉ sau Indonesia và Philippines. Tuy nhiên, ngoài việc giảm đáng kể tỷ lệ sinh, công tác dân số của nước ta đã bộc lộ những khó khăn trong việc nâng cao chất lượng dân số và kiểm soát sự mất cân bằng về giới tính. Đó là chỉ số phát triển con người - HDI còn thấp - xếp hạng 113/169 nước; Tỷ lệ dân số bị thiểu năng về trí tuệ và thể lực là 1,5% và có xu hướng tiếp tục tăng do điều kiện sống, môi trường độc hại và do các phong tục, tập quán và lối sống chưa được cải thiện nhiều. Thêm vào đó con số 6,7 triệu người tàn tật, khuyết tật bẩm sinh và do các tác động bên ngoài như tai nạn giao thông, tai nạn lao động hiện chiếm 6,34% dân số; tầm vóc và thể lực của người VN cón hạn chế - vừa thấp bé nhẹ cân, vừa yếu về sức mạnh và độ bền; Tuổi thọ bình quân đã được cải thiện đáng kể: 72,8 tuổi, song tuổi thọ bình quân khỏe mạnh lại chỉ đạt 66 tuổi - xếp hạng 116/182 nước trên Thế giới. Một số công trình nghiên cứu khoa học đã cho thấy bình quân trong mỗi một đời người của công dân VN thì có tới 12 năm là ốm đau và bệnh tật. Ngoài ra ở VN tình trạng phụ nữ nạo phá thai vào loại cao của Thế giới, tỷ lệ người nhiễm HIV và đặc biệt là cân bằng giới tính khi sinh 110 nam/100 nữ là những thực tế đáng lo ngại.

Mặc dù có dân số đông và mức tăng như vậy, song có một thuận lợi lớn là chúng ta đang sở hữu tỷ lệ dân số vàng đáng phấn khởi. Thông tin từ quỹ dân số Liên hiệp quốc cho biết, năm 2010 trên 60% người VN ở độ tuổi lao động từ 15 đến 64 tuổi. Giai đoạn 2011- 2020 tăng thêm hàng năm 1%. Tương ứng năm 2011 có 47,82 triệu, 2015 là 50,4 triệu và 2020 sẽ là 53,15 triệu người thuộc dân số vàng - lực lượng lao động lý tưởng cho bất kỳ Quốc gia nào vì đó là nền tảng cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Song nói vậy nhưng chớ có vội mừng, bởi trong dân số vàng đó hiện có tới gần 50% là lao động không có tay nghề ổn định, chủ yếu thuộc dạng lao động chân tay, không đòi hỏi trình độ chuyên môn. Điều này đã đặt ra yêu cầu cấp bách cho ngành giáo dục - đào tạo và Lao động thương binh xã hội là phải nhanh chóng nâng cấp và hoàn thiện hệ thống cơ sở dạy nghề và giải quyết việc làm cho người lao động - nhất là lực lượng lao động ở nông thôn khi bị thu hồi đất và quy hoạch các Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Xu thế phát triển của đất nước hiện nay đang rất cần những tay nghề bậc thợ kỹ thuật cao, chuyên môn giỏi. Vậy nhưng tâm lý phổ biến đang đè nặng trong xã hội vẫn là tấm bằng cử nhân và cuộc chạy đua không mệt mỏi vào cổng trường đại học hàng năm. Trong khi đó số người vào các trường nghề và mặn mà với chuyện học nghề thật sự chưa nhiều.

Nhân 50 năm ngày truyền thống Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, rất cần sự tỉnh táo trước các nguy cơ và thách thức của thực trạng dân số nước ta để có những giải pháp và bước đi phù hợp mang tính chiến lược với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội. Việc nhập cư ồ ạt vào các đô thị lớn hiện nay, quan niệm sinh con trai, sinh con hợp năm, hợp tuổi… rõ ràng đang đặt trách nhiệm nặng nề lên chính quyền các cấp và ngành chức năng. Do vậy, muốn có một chiến lược phát triển dân số hài hòa, mức sống và tuổi thọ cao, chỉ số phát triển con người được nâng lên và giảm thiểu những trở ngại và bất cập trong chiến lược phát triển dân số của nước nhà, ngoài sự nỗ lực của chính quyền và các ban ngành, rất cần sự đồng tình và hưởng ứng từ phía cộng đồng xã hội./.