![]() |
|
Sữa - là mặt hàng thực phẩm cần thiết cho mọi người, từ trẻ em, người già cho đến người bệnh. |
Ngay từ ngày 1/1/2010, gần như các sản phẩm sữa của các nhãn hiệu trong và ngoài nước đều lần lượt tăng giá từ 2 cho đến 10%. Có nhãn hiệu sữa thì áp dụng tăng giá liền trong ngày 1/1; có nhãn hiệu đợi đến ngày 9/1 mới tăng giá; có nhãn hiệu tuy chưa chính thức công bố tăng giá, nhưng thông qua thông báo “sẽ’ hoặc “chuẩn bị” tăng giá của các nhân viên tiếp thị, một số chủ cửa hàng bán lẻ đã chủ động tăng giá trước 5%. Tại các siêu thị, cửa hàng, một số nhóm hàng nhập khẩu có liên quan đến nguyên liệu sữa như: bánh, kẹo, bơ, phô mai… cũng đã tăng giá đón đầu từ 5 đến 15%.
Giống như những lần tăng giá trước, hầu hết nhà kinh doanh đưa ra nhiều lý do để biện minh cho việc tăng giá cả sữa nội lẫn sữa ngoại. Nào là giá sữa ngoại nhập khẩu không tăng, nhưng do tỉ giá đồng Đôla Mỹ tăng; hoặc do phải điều chỉnh lương nhân viên… nên buộc phải tăng giá bán. Còn đối với sữa nội, các nhà kinh doanh giải thích là nguyên liệu sữa bột nhập khẩu đã tăng giá 50% so cùng kỳ. Một nguyên nhân khác nữa đẩy giá sữa lên là do tâm lý chuộng đồ ngoại của người tiêu dùng khi tin rằng sữa mắc nhất thì cũng đồng nghĩa là tốt nhất về chất lượng.
Mới nghe qua, có vẻ tăng giá là việc chẳng đặng đừng, là lý do khách quan, nằm ngoài sự kiểm soát của các nhà nhập khẩu và nhà kinh doanh. Nhưng thực tế có đúng như những lời lý giải mà họ đưa ra hay không? Nhìn lại những con số trong các đợt tăng giá của năm 2009, người tiêu dùng có thể thấy, mọi nguyên nhân đẩy giá sữa tăng cao đều không phải như vậy. Thực tế, có những nhãn hiệu sữa không cậy những lý do nêu trên để tăng giá bán, mà còn cam kết giữ giá ổn định cho đến hết năm 2010. Chẳng hạn như, Tập đoàn bơ sữa NamYang (Hàn Quốc) cam kết không tăng giá suốt năm 2010 với 2 nhãn sữa XO và Star Gold và yêu cầu đơn vị nhập khẩu và phân phối không được tự ý điều chỉnh giá bán ngay cả khi có những thay đổi về chênh lệch tỷ giá, chính sách.
Trước đó, vào giữa năm 2009, kết quả của Đoàn kiểm tra liên ngành của TP.HCM khảo sát nhanh ở một số cửa hàng bán lẻ “sữa ngoại” cho thấy, giá thành chỉ một nhưng được bán với giá gấp đôi, tức là bán với giá cao hơn từ 200 đến 220% so với giá vốn nhập khẩu. Ngoài ra, chi phí hội thảo giới thiệu sản phẩm, chi phí quảng cáo ra rả trên các phương tiện truyền thông nhằm đánh vào tâm lý muốn con thông minh, mạnh khỏe và mau lớn của các bà mẹ cũng góp phần đội giá sữa lên cao.
Từ ba năm nay, giá sữa liên tục tăng, đặc biệt là sữa ngoại. Giá sữa tăng cho dù có thời điểm giá sữa ngoại đã giảm 40-60% so với thời điểm cao nhất của năm 2008. Điều đáng nói và không thể chấp nhận được là khi giá sữa nguyên liệu thế giới tăng, giá sữa trong nước lập tức tăng lên cao cho dù lô hàng nhập khẩu theo giá mới phải đợi ít nhất một tháng sau mới về tới. Hoặc khi giá sữa nguyên liệu thế giới giảm, giá sữa trong nước vẫn “giữ ổn định” ở mức giá cao. Đây là điệp khúc “điều chỉnh giá” mặt hàng sữa gần giống với giá xăng dầu.
Người tiêu dùng “nóng ruột” khi biết được giá bán lẻ sữa ở Việt Nam đang ở mức cao nhất thế giới: giá bán lẻ trung bình là 1,4 Đôla Mỹ/lít, trong khi Trung Quốc là 1,1 Đôla Mỹ, ở Ấn Độ là 0,5 Đôla Mỹ, các nước Âu - Mỹ từ 0,5 đến 0,9 Đôla Mỹ/lít. Hiện giá sữa ở Việt Nam cao gấp đôi Malaysia và gấp 1,5 lần so với Thái Lan.
Theo Nghị định 75/2008, sữa là mặt hàng nằm trong danh mục hàng hoá, dịch vụ thực hiện bình ổn giá. Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính cũng quy định, nếu trong thời gian tối thiểu 15 ngày liên tục, giá bán lẻ sữa tăng từ 20% trở lên so với giá thị trường trước khi có biến động sẽ bị áp dụng các biện pháp bình ổn giá và trên cơ sở đó có thể xử phạt hành chính và yêu cầu bồi thường cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, trên thực tế, các nhà nhập khẩu, phân phối sữa đã “khéo léo” không để xảy ra tình trạng biến động giá sữa liên tục trong vòng 15 ngày với mức tăng 20% như quy định để rồi bị phạt! Mỗi lần điều chỉnh tăng cũng chỉ “nhẹ nhàng” từ 2-10% mà thôi! Ngoài ra, còn nhiều quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá trở thành… nguyên tắc và không có điều khoản cụ thể nào để lấy làm căn cứ xử phạt việc bán sữa với giá cao ngất ngưởng như hiện nay.
Chỉ với một mặt hàng sữa cũng cho thấy nhiều vấn đề trong quản lý. Một khi các quy định về quản lý giá sữa vẫn còn kẽ hở để các nhãn hiệu sữa “lách” luật thì thiệt thòi vẫn nghiêng về người tiêu dùng nội địa. Nhưng trong cái khó vẫn ló cái hay: có khi giá sữa ngoại nhập tăng quá cao lại là cơ hội cho sữa nội chất lượng tốt, có giá hợp lý vượt lên khẳng định uy tín với người tiêu dùng. Ngược lại, nếu sữa nội tiếp tục “té nước theo mưa” để tăng giá thì chỉ làm “nóng ruột” người tiêu dùng, dần mất đi sự tin dùng và ủng hộ hàng Việt Nam của người Việt Nam.
Xuân Đào

