Bình luận: Tôn vinh thơ lục bát, tôn vinh hồn dân tộc

(VOH) - Có lẽ trên thế giới này hiếm có quốc gia nào có một loại hình thơ độc đáo như thơ lục bát của Việt Nam. Một thể thơ vừa có niêm luật chặt chẽ vừa cởi mở phóng khoáng cho tới vô cùng của sáng tạo. Sinh ra từ dân gian, thơ lục bát đi vào đời sống , di vào văn học và trở thành một tài sản quý báu trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc, tôn vinh thơ lục bát tức là tôn vinh hồn dân tộc Việt Nam.
 Thả những câu thơ hay lên trời tại Ngày Thơ vừa qua.

Khác với thơ Đường của Trung Quốc, Haiku của Nhật Bản mang tính chất bác học sinh ra từ tầng lớp quý tộc phong kiến, có trình độ học thức sau đó mới lưu truyền vào dân gian, thơ lục bát Việt Nam mang tính chất bình dân, ra đời từ khi nước ta chưa có chữ viết chính thức. Đó là những câu hát ru của những bà mẹ ru con bằng vần điệu êm ái, đã tồn tại trong ký ức dân tộc từ rất xa xưa cho đến ngày được lưu lại bằng chữ viết. Chỉ với 2 câu, một câu sáu chữ (lục), một câu tám chữ (bát). Chữ thứ 6 của câu lục vần với chữ thứ sáu, hoặc thứ tư của câu tám. Hai câu cũng có thể thành bài thơ hoặc kéo dài thành hàng ngàn câu thành một truyện thơ… đã trở thành một thể thơ đặc sắc, giàu tính sáng tạo , mở rộng cho mọi nội dung và những biên độ sáng tạo khác … Vừa chặt chẽ vừa phóng khoáng, một thể thơ giàu bản sắc Việt Nam.
Các nhà thơ , từ cái nền sáng tạo của dân tộc đã đưa thơ lục bát thăng hoa. Kể từ lúc ta có chữ Nôm, thơ lục bát đã bắt đầu phát triển và hoàn thiện hết sức tinh tế vào thế kỷ 18 với đỉnh cao là Truyện Kiều của Nguyễn Du và Lục vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Lúc này, ta đã có hàng trăm tác phẩm truyện thơ khác trên nền thơ lục bát được lưu truyền rộng rãi trong quần chúng như : Tống Trân - Cúc Hoa, Thoại Khanh- Châu Tuấn, Lưu Bình-Dương Lễ, Truyện hoa Tiên, Nhị độ Mai … Và Truyện Kiều, đỉnh cao của nghệ thuật văn chương dân tộc đã được hình thành hoàn mỹ trên nền thơ lục bát. Thời hiện đại, phong trào thơ mới 1930-1945 lẫy lừng, cuộc cải tổ triệt để về hình thức và nội dung trong thi ca dân tộc cũng đã vinh danh nhiều nhà thơ sáng tạo nên thể thơ lục bát rất độc đáo mà đại diện có thể kể như : Tản Đà, Nguyễn Bính, Huy Cận với những thi phẩm đặc sắc… 2 cuộc kháng chiến, thể thơ độc đáo của dân tộc được tiếp tục phát huy không những trong văn học mà cả trong thực tế đời sống kháng chiến. Từ những câu khẩu hiệu, những lời tuyên truyền, vận động. Ít ai quên được những bài ca nôm na từ lớp bình dân học vụ : “ o tròn như quả trứng gà, ô thì đội mũ, ơ thì mang râu” mà cho tới bây giờ những nhà làm giáo dục còn cảm thấy thán phục về tính hiệu quả của nó. Những nhà thơ Cách mạng hầu hết đều có những tác phẩm đỉnh cao bằng thơ lục bát như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Duy, Lê Anh Xuân … Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, các nhà thơ có điều kiện tìm tòi, đổi mới nhiều cho thơ và thể thơ lục bát vẫn tiếp tục được nhiều nhà thơ lựa chọn như là một trong hình thức hiệu quả để chuyển tải những rung động của tâm hồn. Nhiều nhà thơ tiếp tục thành công như : Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Trúc Thông, Trương Nam Hương…
Về tính hiệu quả trong nghệ thuật, về tính phổ biến của thơ lục bát thì không phải bàn cãi. Thơ lục bát đã đi vào đời sống tâm hồn và đời sống văn học dân tộc như là một tài sản quý báu. Ta cảm ơn ông cha ta đã sáng tạo nên loại hình thơ độc đáo này. Tôn vinh thơ lục bát, nâng lên thành “quốc thơ” thì là xứng đáng.
Trong bối cảnh giao lưu hội nhập văn hóa rộng lớn như ngày hôm nay, việc tôn vinh thơ lục bát, một di sản văn hóa dân tộc, nâng lục bát lên thành” quốc thơ” là một việc làm đáng trân trọng. Nhằm làm cho giới trẻ tự hào về một loại hình thơ độc đáo của đất nước. Nhằm bảo tồn và phát huy tính chất đặc sắc của thơ lục bát, một di sản trong tâm hồn dân tộc Việt Nam. Điều này càng cấp bách hơn khi trong lúc nhiều nhà thơ trẻ hiện đại đang tìm tòi , học tập những hình thức thơ từ nước ngoài (đôi khi chưa mang lại hiệu quả về mặt giá trị) thì việc khẳng định giá trị của một hình thức thơ dân tộc độc đáo từng tồn tại và thành công từ hàng ngàn năm của dân tộc là một việc làm rất cần thiết.