![]() |
|
Một lớp học của sinh viên năm 3 khoa xây dựng hệ tại chức của Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG TP.HCM) - Ảnh: TTO |
Trước hết, hãy nói về cơ hội học tập. Trên đường đời không phải việc học của ai cũng đều suông sẻ và thuận lợi. Ước mong bước vào ngưỡng cửa đại học và từ đó cầm tấm bằng cử nhân đi tìm việc là chuyện trong mơ của bao người. Cơ hội, học lực, hoàn cảnh và cả một chút may mắn… đã làm chậm lại đường vào đại học của họ. Và không ít người sau một thời gian làm thợ hoặc bươn chải, nhờ vào chủ trương nới rộng các hệ đào tạo, đã hoàn tất chương trình cử nhân từ nỗ lực của mình. Có thể nói, tính ưu việt của xã hội chúng ta là ở chỗ tạo điều kiện cho tất cả công dân có cơ hội hoàn thiện và nâng cao kiến thức nơi các trường đại học tùy theo sức của mình. Ngay từ khi đất nước còn chia cắt, ở miền Bắc đã có các hệ đào tạo như chuyên tu, hàm thụ, vừa học vừa làm và bây giờ là tại chức. Trên thực tế đã có nhiều trí thức đầu ngành trưởng thành từ các hệ đào tạo như vậy. Dĩ nhiên là phải nhờ vào sự nỗ lực rất lớn của bản thân.
Trở lại quyết định gây xôn xao của Đà Nẵng, có lẽ xuất phát từ thực trạng đào tạo tại chức tràn lan như hiện nay đã làm cho dư luận lo ngại. Quả thực là từ hơn 10 năm qua, số học viên tại chức của hệ thống các trường đại học trong cả nước đã tăng quá nhanh. Có những thời điểm sinh viên tại chức còn đông hơn cả hệ chính quy. Nhiều trường sinh viên tại chức chiếm tới 40%. Nguyên nhân là quy trình đầu vào và chất lượng giảng dạy của hệ này quá dễ dãi, tới mức mà có vị trong 4 năm lấy tới 3 bằng cử nhân. Hơn thế nữa có người còn thường xuyên bỏ lớp, bỏ chương trình và nhờ người học thay, thi hộ…do vậy tình trạng bằng thật học giả của hệ tại chức là có thực.
Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là toàn bộ hệ tại chức đều rơi vào tình trạng này. Trong thời gian vừa qua có một bộ phận không nhỏ cán bộ của các ngành các cấp đã được chuẩn hóa nhờ qua hệ đào tạo tại chức. Và thực tế đã chứng minh họ đã trưởng thành và đang có những đóng góp tích cực và hiệu quả từ việc đào tạo cộng với kinh nghiệm sống , sự cập nhật và tích lũy thêm kiến thức của bản thân. Ngược lại, cho dù có được đào tạo bài bản, song nếu không biết vận dụng, học hỏi và bồi dưỡng thêm, thì họ rất dễ bị chựng lại và thậm chí là không còn thích ứng với công việc nữa.
Như vậy là đã rõ, việc thiếu thiện cảm hoặc dị ứng với hệ tại chức là thái độ ứng xử có thể là không công bằng, cần xem xét lại. Nếu như, quan điểm của thành phố Đà nẵng cũng được áp dụng tại nhiều tỉnh thành trong cả nước thì e rằng sẽ không lường hết hậu quả về bài toán nhân sự. Đó là chưa tính đến việc quyết định này đã không chuẩn về mặt pháp lý, bởi Luật công chức viên chức không cấm tuyển người có bằng tại chức và Luật giáo dục không phân biệt nguồn gốc và giá trị của các loại văn bằng, dù đó là bằng chính quy hay tại chức.
Song công tâm mà nói thì đã đến lúc chúng ta cần nghiêm túc xem xét kỹ lưỡng chất lương và chuẩn mực của hệ đại học tại chức. Bộ GD-ĐT phải là đầu mối thanh kiểm tra và sắp xếp lại toàn bộ việc đào tạo này trong hệ thống giáo dục đại học của nước ta. Đào tạo với số lượng quá lớn trong thời gian quá ngắn và điều kiện thấp kém thì không thể cho ra kết quả khả quan được. Đó là sự thật không thể né tránh. Gần đây, một số trường đại học của Hà nội đã nhận ra và tự đề xuất phương án thu hẹp số lượng đào tạo tại chức để nâng chất lượng lên trong vòng vài năm tới. Đã qua rồi thời kỳ mà các trường xoay xở tự cứu mình bằng cách nở nồi hệ tại chức như vậy.
Suy cho cùng từ kinh nghiệm của nhiều xã hội tiên tiến, vấn đề bằng cấp không phải là điều kiện tiên quyết để người lao động tìm được việc làm. Với những ai có năng lực và biết cầu tiến họ luôn luôn có những cơ hội trong cuộc đời và lẽ dĩ nhiên tấm bằng vào nghề, dù là chứng chỉ hay bằng tốt nghiệp cũng là sự minh chứng cho quá trình học tập của họ. Vấn đề còn lại chính là năng lực làm nghề - một khả năng mà không phải ai cũng dễ dàng thể hiện và được chấp nhận. Thay đổi được quan điểm tuyển dụng theo hướng này có lẽ sẽ dễ dàng hơn cho một xã hội phát triển.


