Vấn đề hôm nay: Thách thức và cơ hội cho ngành lúa gạo Việt Nam

(VOH) - Sản xuất lúa gạo nước ta năm 2010 kết thúc với những kết quả phấn khởi. Sản lượng xuất khẩu gần 7 triệu tấn gạo với giá trị hơn 3,2 tỷ USD là những con số đầy ấn tượng. Tuy nhiên, kể từ năm 2011 trở đi, ngành lúa gạo Việt Nam đứng trước nguy cơ bị các doanh nghiệp nước ngoài lấn sân, có thể xuất hiện tình trạng những doanh nghiệp lương thực bị thua ngay trên sân nhà.

Theo cam kết của Việt Nam với Tổ chức thương mại thế giới WTO, kể từ năm 2011, chúng ta sẽ mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài tự do kinh doanh lúa gạo. Điều này có ưu điểm là tạo ra tính cạnh tranh trong kinh doanh, giúp các doanh nghiệp Việt Nam đối đầu với thách thức, chứng tỏ bản lĩnh để vươn lên. Tuy nhiên, từ đây cũng bộc lộ các nhược điểm của doanh nghiệp ngành gạo Việt Nam. Các doanh nghiệp nước ngoài với tiềm lực về vốn lớn và lãi suất thấp khoảng 5%/năm sẽ trở thành những ưu thế có thể đè bẹp các doanh nghiệp lương thực Việt Nam, kể cả những doanh nghiệp lớn như các tổng công ty lương thực, bởi không chỉ nguồn vốn hạn chế mà lãi suất vay vốn ngân hàng để đưa vào kinh doanh khoảng 15-18%/năm thì khó có đơn vị nào đủ sức cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài.

Mặc dù vậy, hiện nay vẫn còn cơ hội cho các doanh nghiệp lương thực Việt Nam là Nghị định kinh doanh xuất khẩu gạo 109 của Chính phủ, có giá trị đến hết năm 2012. Với quy định, doanh nghiệp xuất khẩu gạo phải có nhà máy xay xát và kho chứa tối thiểu 5.000 tấn thì khoảng 30 doanh nghiệp xuất khẩu gạo chủ lực của ngành gạo Việt Nam đang chiếm ưu thế. Nói như thế, không có nghĩa là các doanh nghiệp này cứ ỷ y với ưu thế này mà không tiếp tục đầu tư phát triển mở rộng thị trường, liên kết với các HTX cũng như doanh nghiệp tư nhân ở các địa phương để tạo hệ thống vệ tinh, giữ nguồn hàng. Bởi doanh nghiệp nước ngoài có vốn lớn sẽ rất dễ dàng thôn tính, mua lại các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ đang có sẵn nhà máy xay xát lẫn kho chứa lúa gạo. Khi đó, thị trường xuất khẩu gạo trên thế giới của các doanh nghiệp lương thực Việt Nam càng bị cạnh tranh gay gắt hơn, kể cả ở những thị trường tập trung, vì doanh nghiệp nước ngoài có thể xuất bán cho doanh nghiệp khác ở nước thứ ba để cạnh tranh tham gia đấu thầu trực tiếp.

Các doanh nghiệp Việt Nam cũng không thể quên chăm sóc thị trường nội địa, với các mặt hàng lương thực và thực phẩm chế biến từ gạo, lúa mì.v.v. cho nhu cầu hàng ngày của người dân. Việc mở rộng kênh phân phối, các hệ thống cửa hàng tiện ích, các cửa hàng lương thực chế biến với đa dạng các mặt hàng là một nhu cầu của xã hội nhưng cũng là cơ hội để dựa vào đó các doanh nghiệp ngành gạo Việt Nam có thể tạo cơ sở cho việc phát triển bền vững, ổn định hơn.