![]() |
| Tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm cơ khí đến 2015 vẫn khó khả thi. Ảnh: TPO |
Cùng các chỉ tiêu đặt ra như: nội địa hoá sản xuất xe tải, xe buýt đạt tỉ lệ 60%, ô tô là 35-40%, nhu cầu thiết bị toàn bộ 40%... dự kiến từ nay đến năm 2015, giá trị sản xuất toàn ngành cơ khí đặt mức tăng trưởng bình quân 15%/năm. Phấn đấu đến 2015 ngành cơ khí đáp ứng 55- 60% nhu cầu sản phẩm cơ khí của cả nước, trong đó xuất khẩu đạt 30% giá trị sản lượng.
Một trong những lĩnh vực quan trọng nhất trong ngành cơ khí đó là cơ khí chế tạo máy, được xem là trái tim của ngành công nghiệp. Nhưng mức độ đầu tư và chính sách hỗ trợ của nhà nước dường như doanh nghiệp ngành chưa tiếp cận triệt để. Đánh giá về hiện trạng của ngành cơ khí chế tạo, ông Đỗ Phước Tống - Phó chủ tịch Hội cơ khí thành phố cho rằng, sở dĩ ngành cơ khí chế tạo chậm phát triển là do đa phần các doanh nghiệp sử dụng máy cũ, chất lượng thấp, nguồn nhân lực cũng không cao, hơn nữa để đầu tư vào thiết bị công nghệ doanh nghiệp cần nguồn vốn lớn nhưng lợi nhuận quá thấp và rủi ro cao, điều này không khuyến khích các doanh nghiệp cơ khí đầu tư. Một khía cạnh khác là việc khó tiếp cận chính sách kích cầu, hỗ trợ lãi suất khi vay vốn đầu tư, đỏi hỏi doanh nghiệp phải có nội lực mạnh nhưng số doanh nghiệp này rất ít. Bà Mai Thị Duyến - Trưởng Ban điều hành câu lạc bộ xuất khẩu TPHCM cho biết:
Mặc dù không thể so sánh ngành cơ khí nước ta với các nước trong khu vực, nhưng các doanh nghiệp cơ khí chế tạo cho rằng, một số sản phẩm đạt chất lượng có thể cạnh tranh với các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc... nhưng lại không thể cạnh tranh được với sản phẩm chất lượng từ trung bình đến thấp của Trung Quốc khi nhập vào Việt Nam. Cái khó hiện nay của doanh nghiệp cơ khí là nguồn vốn đầu tư và chính sách thuế. Các sản phẩm cơ khí chế tạo như: khuôn mẫu thiết bị máy móc, băng tải, phụ tùng máy… là các sản phẩm chế tạo được trong nước thậm chí đạt chất lượng cao hơn, nhưng để hoàn chỉnh một sản phẩm cần phải nhập khẩu các phụ tùng đặc chủng như: Moto servo, inverter, PLC, màn hình điều khiển, các thiết bị điện khác… và các mặt hàng này đều phải chịu thuế suất nhập khẩu (màn hình điều khiển 12%, bàn phím 3%, băng điều khiển 20%, pin lithium 5%...), ngoài ra, doanh nghiệp trong nước còn phải chịu áp lực của thuế VAT 10%, thuế thu nhập doanh nghiệp 25%. Các doanh nghiệp cơ khí cho rằng điều này quá vô lý. Ông Đỗ Phước Tống - Phó chủ tịch Hội cơ khí TP lấy ví dụ minh chứng:
Rõ ràng khi đối mặt với những yếu tố không thuận lợi, cả về chính sách lẫn tài chính, thì ngành cơ khí khó tìm hướng đi riêng biệt và tạo nền tảng để làm ra các sản phẩm phụ trợ đặc trưng để hỗ trợ ngược lại cho ngành. Chính vì nguồn lực yếu, nên không đủ khả năng đầu tư cho nghiên cứu, chuẩn hóa sản phẩm, xây dựng thương hiệu… nên trong nhiều năm qua các doanh nghiệp vẫn loay hoay tìm hướng đi… chỉ để tồn tại, vẫn còn thiếu cầu nối giữa doanh nghiệp và nhà nước. Ông Trần Văn Lợi - thành viên hiệp hội nói:
Để cơ ngành cơ khí chế tạo thành phố phát triển, trước mắt các doanh nghiệp kiến nghị nên miễn thuế VAT cho các máy móc “mẹ” nhập về làm tài sản cố định cho ngành cơ khí, giảm thuế nhập khẩu các phụ tùng đặc chủng, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp… có như vậy, doanh nghiệp cơ khí mới mạnh dạn đầu tư những máy móc chủ lực làm nền tảng, tạo ra sản phẩm hỗ trợ ngành công nghiệp, để có được sản phẩm cuối cùng mang tính nội địa hoá cao. Phó chủ tịch UBND TP Lê Mạnh Hà nhấn mạnh.
Khi các doanh nghiệp cơ khí chưa tìm được tiếng nói chung, công nghiệp hỗ trợ vẫn phụ thuộc nhiều vào yếu tố nhập khẩu, xem ra con số tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm cơ khí đến 2015 vẫn khó khả thi.

