FTA Việt Nam – EU: Kỳ vọng được ký kết vào cuối năm

(VOH) - Theo đánh giá từ đại diện phái đoàn EU tại Việt Nam, Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam – EU có kỳ vọng được ký kết vào cuối năm nay, sẽ mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, để biến cơ hội thành hiện thực vẫn là thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp Việt.

Thủy sản hiện là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang EU. Ảnh: dantri

Đàm phán thương mại tự do giữa Việt Nam và EU vừa trải qua những vòng đàm phán cuối, với nhiều vấn đề quan trọng đã được thảo luận, cam kết nghiêm túc thực hiện. Cả Việt Nam và EU đều tiếp tục khẳng định quyết tâm đã được lãnh đạo hai bên thống nhất về việc sớm đạt được thỏa thuận về một Hiệp định FTA toàn diện, có chất lượng cao; đồng thời thảo luận lộ trình tiếp theo để đạt được mục tiêu này, đặc biệt là thông qua các bản chào về mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và mua sắm Chính phủ. "Thực chất đây là một thị trường còn rất nhiều tiềm năng cho các doanh nghiệp Việt Nam, module thị trường này có nhỏ so với các quốc gia khác nhưng nếu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào được thị trường này thì lợi nhuận sẽ rất cao, họ đòi hỏi chất lượng cao và chấp nhận được những giá rất cao. Nơi đây, khoảng nửa hoặc 2/3 thời gian trong năm là có tuyết rơi nên hầu như là các mặt hàng nông sản hay hàng tiêu dùng họ phải nhập từ nước ngoài, đó là cơ hội rất lớn cho doanh nghiệp Việt Nam", ông Nguyễn Tuấn Hải, Giám đốc dự án FLC phân tích.

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và EU đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ trong 2 thập niên vừa qua. Kim ngạch thương mại hai chiều tăng gấp 5 lần từ khoảng 6,5 tỷ Đôla Mỹ năm 2000 lên 33,6 tỷ Đôla Mỹ vào năm 2013. Điểm đặc biệt là dù EU chưa phải là đối tác song phương lớn nhất của Việt Nam nhưng Việt Nam nhận được thặng dư thương mại rất lớn từ thị trường này, lên đến 9,2 tỷ Đôla Mỹ trong năm 2014. EU vẫn là thị trường xuất khẩu của nhiều mặt hàng chủ lực của Việt Nam. Cụ thể trong năm 2014: mặt hàng điện thoại của Việt Nam xuất khoảng 23 tỷ Đôla Mỹ ra thị trường thế giới thì hơn 8,45 tỷ Đôla Mỹ trong số đó thu về từ châu Âu; ở mặt hàng giày dép có đến 35% lượng hàng Việt Nam xuất ra thế giới là đến châu Âu; mặt hàng dệt may chiếm trên 16%...

Ông Lê Kỳ Anh, chuyên viên, cơ quan kinh tế và thương mại thuộc phái đoàn EU tại Việt Nam phân tích: Có 3 nguyên nhân chính đưa sự tăng trưởng của thương mại 2 nước: Trước tiên đó là sự năng động của các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các công ty Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông sản – thực phẩm và các ngành công nghiệp thâm dụng lao động; tiếp đó là tính bổ sung mạnh mẽ của hai nền kinh tế cho phép doanh nghiệp hai bên mở rộng liên tục kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai bên và cuối cùng là nhờ các ưu đãi đơn phương mà EU đã dành cho Việt Nam theo chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) trong nhiều năm. Ông Lê Kỳ Anh cho hay: "Quy chế thuế quan phổ cập này thực ra là đơn phương, mức thuế quan ưu đãi dành cho đa phần các hàng xuất xứ từ Việt Nam là khoảng 3,5%, thấp hơn so với mức thuế WTO. Đó là lý do tại sao hàng Việt Nam xuất khẩu rất mạnh sang EU. Nhưng đây chỉ mang tính chất đơn phương, có nghĩa là 3 năm đến 5 năm một lần, EU xem xét lại. Nói đến khía cạnh này tôi cũng muốn nói rằng là đã đến lúc việc đàm phán khu vực tự do mậu dịch lẽ ra phải diễn ra sớm hơn. Chúng ta cũng phải cạnh tranh và cần có hiệp định, cần có sự đảm bảo mang tính pháp lý mà hai bên cùng cam kết".

Khi hiệp định được ký kết thì trên 95% các dòng thuế xuất khẩu sang EU sẽ xuống mức 0%. Tuy nhiên, thuế nhập khẩu vào châu Âu không phải là lợi ích có được duy nhất từ hiệp định mà tác động lớn hơn đối với nền kinh tế Việt Nam là dòng đầu tư châu Âu sẽ vào Việt Nam, luật pháp sẽ minh bạch hơn. Một khi cơ chế về pháp lý được cải cách thì doanh nghiệp Việt Nam cũng được hưởng lợi từ việc này. Đầu tư của châu Âu vào Việt Nam khác với những nước châu Á, bởi: châu Âu chỉ mang những nhà quản lý thực sự có trình độ sang và trông chờ vào nhân công lao động tại Việt Nam. Khi họ mang dòng vốn vào đồng thời cũng mang theo kỹ năng, công nghệ vào Việt Nam, sử dụng nguồn lao động họ cũng đi kèm với việc đào tạo chuyên sâu, có trình độ hơn.

Khu vực tự do mậu dịch đem lại cơ hội, tuy nhiên, có cụ thể hóa được cơ hội hay không vẫn còn trông chờ vào rất nhiều các doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp Việt Nam không tận dụng cơ hội thì sẽ có những đối tác khác chiếm lĩnh. Bởi một doanh nghiệp FDI đầu tư sản xuất tại Việt Nam thì họ cũng có quyền hưởng nguồn gốc xuất xứ Việt Nam và nhận được những ưu đãi dành cho hàng hóa từ thị trường Việt Nam xuất khẩu. Doanh nghiệp cần nhanh chóng tính đến bài toán tận dụng lợi thế để xuất khẩu sang thị trường châu Âu đầy tiềm năng này. "Theo đánh giá chung thì doanh nghiệp chúng ta hiện nay khá bị động, khác với khi chúng ta gia nhập WTO, các doanh nghiệp rất hào hứng và tìm hiểu rất nhiều, nhưng tại thời điểm này thì các doanh nghiệp khá thờ ơ. Các doanh nghiệp dường như mệt mỏi và không quan tâm nhiều. Nhưng cơ hội vào thị trường châu Âu là cơ hội rất lớn, lớn hơn rất nhiều cơ hội mà WTO trước đây mang lại. Chính vì vậy, các doanh nghiệp theo tôi nên tìm hiểu và tận dụng tốt cơ hội này. Hiện nay cũng có một số doanh nghiệp chủ động để tìm kiếm thị trường. Đây cũng là tín hiệu tốt", Tiến sĩ Nguyễn Văn Giáp, Giám đốc Trung tâm Chính sách và Chiến lược nông nghiệp nông thôn Miền Nam nhận định.

Châu Âu là một thị trường khó tính với khoảng hơn 500 triệu người tiêu dùng. Họ đòi hỏi hàng xuất khẩu sang phải đáp ứng tiêu chuẩn cao nhất, không chỉ bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng mà họ còn quan tâm đến một số yếu tố khác như: phát triển bền vững, bảo vệ môi trường… Các ngành có hàm lượng chế biến cao sẽ có ưu thế khi thuế xuất khẩu vào EU. Ngược lại, các mặt hàng sơ chế, thô và nguyên liệu sẽ không được hưởng lợi và như vậy sẽ là thiệt thòi rất lớn cho ngành xuất khẩu của chúng ta, nếu không kịp thời thay đổi cho phù hợp.