Và một trong những giải pháp để ngành nông nghiệp đối phó với sự thay đổi bất thường ấy của thời tiết là chọn tạo ra những giống cây-con có khả năng sống trong môi trường khắc nghiệt. Tìm hiểu về điều này, phóng viên Trường Duy có loạt bài: “Biến đổi khí hậu- áp lực cho công tác nghiên cứu giống nông nghiệp”.

Bài 1: Nhọc nhằn tìm giống mới
Những ngày gần đây, khi mùa khô của năm 2010 chỉ mới “khởi
động” ở các tỉnh phía nam, thì tình hình khô hạn và xâm nhập mặn đã cho thấy có
những diễn biến phức tạp. Có nơi nước mặn với độ mặn trên 10 phần ngàn đã xâm
nhập sâu đến 70 cây số vào đất liền. Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam cho biết,
hiện nước mặn đã xâm nhập sâu từ 30- 40km trên các sông chính tại ĐBSCL, gây khó
khăn cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân. Đáng báo động đoạn từ
sông Ông Đốc đến khu vực Biển Nhị-tỉnh Cà Mau, nước mặn có độ mặn từ 10%o đến
14%o đã xâm nhập sâu 70km. Thậm chí ở những khu vực như huyện Trần Văn Thời,
Khánh Bình, Tắc Thủ, Khánh Hòa tỉnh Cà Mau, huyện An Minh-tỉnh Kiên Giang, có
lúc nước có độ mặn đạt tới gần 26 phần ngàn. Như vậy, khó có thể hình dung được
người nông dân sẽ sản xuất những mô hình gì cho phù hợp trước nồng độ mặn quá
lớn như thế này. Trong khi theo nhiều nhà chuyên môn, với ngưỡng độ mặn trên khó
có cây trồng nào sống được, và ngay cả việc nuôi trồng thủy sản cũng không tránh
khỏi những bất lợi.
Thực tế trên cho thấy biến đổi khí hậu đã không còn nằm trong khái niệm là kịch
bản như mọi người từng dự tính trước đây mà hôm nay nó chính là những mối nguy
hiểm rành rành ra đó. Nếu như chúng ta chủ quan với biến đổi khí hậu thì những
hậu quả gánh lấy chắc chắn sẽ nặng nề. Thế nên không khó hiểu khi gần đây, Bộ NN
& PTNT đẩy mạnh việc tìm ra giống cây con thích ứng với biến đổi khí hậu. Ông
Nguyễn Tấn Hinh – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Bộ NN &
PTNT khẳng định:
Cũng theo ông Nguyễn Tấn Hinh, thật ra không phải đến nay, các chương trình
nghiên cứu có liên quan đến chọn tạo giống thích ứng với biến đổi khí hậu mới
được Bộ quan tâm mà nó đã được thực hiện từ năm 2006. Tuy nhiên trong quá trình
triển khai đã gặp không ít trở ngại. Ông nói:
Và chính vì kinh phí cấp cho các đề tài, dự án phục vụ công tác chọn tạo giống
ứng phó biến đổi khí hậu còn hạn hẹp, chưa nhiều nên dẫn đến nhiều nơi chỉ mới
dừng lại ở sự quan tâm mà chưa có những công trình nghiên cứu hẳn hoi. Theo TS
Võ Công Thành – Phó Bộ môn Di truyền Giống Đại học Cần Thơ, hiện nay đối với cây
lương thực thực phẩm, nhiều nơi chỉ chú ý đến tìm ra giống có năng suất cao,
chất lượng tốt để phục vụ xuất khẩu, còn việc tìm những giống chịu hạn, chịu mặn
thì rất ít ỏi. Hơn nữa, kỹ thuật cấy gen cho 1 giống lúa vừa có khả năng chịu
mặn, vừa chịu được ngập úng, lại cứng cây và đảm bảo năng suất cũng không phải
dễ. Bởi lẽ hiện nay trường Đại học Cần Thơ cũng mới có dấu chỉ thị cho gen chịu
mặn, còn gen chịu hạn thì đang trong quá trình tìm kiếm. PGS-TS Đinh Văn Cải,
Phó Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam cho rằng, muốn chọn
tạo ra giống cây trồng vật nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu không phải công
việc một sớm một chiều là có thể làm được. Ông giải thích:
Việt Nam được coi là 1 trong 5 nước chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí
hậu. Và không chỉ có vựa lúa ĐBSCL nằm ven biển phải hứng chịu mà cây cà phê
chót vót trên Tây Nguyên cũng không thoát khỏi những tác động đó. Dễ thấy nhất,
trong 2 vụ cà phê gần đây, những cơn mưa trái mùa thường xuất hiện vào cuối năm
đã làm cho người trồng cà phê bị thiệt hại đáng kể về sản lượng. Thêm nữa, chỉ
số biên độ nhiệt giữa ngày và đêm có dấu hiệu kéo dài ra; có những ngày cực
nóng, nhưng cũng có những ngày cực lạnh hơn so với trước. Điều này tạo ra môi
trường không thuận lợi cho cây cà phê sinh trưởng phát triển, nhất là vào mùa
khô. Vì thế, những năm qua, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên đã
tiến hành nghiên cứu tìm ra những giống cà phê chín muộn để giúp người nông dân
tiết kiệm nước, phần nào chống chọi với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, về điểm này
TS Lê Ngọc Báu – Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên
vẫn có điều trăn trở:
Ở hai lĩnh vực chăn nuôi và thủy sản, tuy biến đổi khí hậu chưa thể hiện rõ
nhưng nó cũng ít nhiều có sự tác động. Chẳng hạn, khi nước biển lấn sâu vào đất
liền, các mô hình nuôi cá nước ngọt phải tính ngay đến chuyện chuyển đổi. Đồng
thời dưới tác động của mặn sẽ làm xáo trộn nguồn thức ăn của thủy sản nuôi bè do
thay đổi đa dạng sinh học vùng cửa sông. Ngoài ra, khi khô hạn và mặn tăng cao,
các loại cây trồng dùng làm thực phẩm cho đàn gia súc ngày càng thưa dần. Trong
khi trước điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp càng đòi hỏi vật nuôi phải mạnh
mẽ và có sức đề kháng tốt hơn trước. Những khó khăn đó cho thấy công tác nghiên
cứu tìm ra các giống cây con thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành nông
nghiệp chắc chắn sẽ còn rất nhọc nhằn.
Trường Duy
