Nông nghiệp ngoại thành hướng đến công nghệ cao
(VOH) - Trong tiến trình đô thị hoá, đất canh tác nông nghiệp ngày càng giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng. Do vậy để xây dựng một nền nông nghiệp đô thị bền vững, thành phố đã chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Trong đó chú trọng ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất làm thay đổi thói quen, tập quán canh tác cề hữu của bà con nông dân lâu nay.
Đã có những thay đổi đáng kể trong cả lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi lẫn nuôi trong thủy sản... Nhất là trong lĩnh vực trồng rau an toàn, nông dân ngoại thành đã tiếp xúc được nhiều kỹ thuật canh tác mới. Trong đó, việc trồng rau mầu trong nhà lưới ngày càng được nông dân ưa chuộng. Hiện cả TP đã có khoảng 450 nhà lưới các loại, giúp bà con nông dân có thể canh tác từ 10 đến 14 vụ một năm, đưa thu nhập trên mỗi ha đạt từ 250 đến 300 triệu đồng. Những hộ không có nhà lưới thì hầu hết đều áp dụng kỹ thuật màng phủ để tiết kiệm chi phí làm cỏ, phân bón, nước tưới.... Bà con rất tích cực ứng dụng khoa học kỹ thuật, hạ giá thành sản phẩm: như sử dụng các bộ giống mới thay cho việc tự để giống để cải thiện năng suất và chất lượng rau quả, đưa các loại máy cầy xới mini vào các khâu làm đất trong nhà lưới, sử dụng các chế phẩm sinh học để ủ phân hữu cơ, phòng trừ sâu bệnh... Theo ông Trần Viết Mỹ, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông thành phố thì việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp từ khâu chọn giống, xử lý hạt giống, tăng tỉ lệ nẩy mầm đến việc sử dụng các thiết bị nhà lưới, dùng phân vi sinh cùng với các loại chế phẩm sinh học đã giúp nông dân giảm được giá thành rau ăn lá từ 300 đến 500 đồng một kg, rau ăn quá từ 4 đến 600 đồng / kg. Từ đó tăng lợi nhuận cho người sản xuất, nông dân yên tâm trồng rau an toàn, nhất là khi họ lại được bao tiêu sản phẩm qua đầu mối của các hợp tác xã.
Theo hướng này, ngành nông nghiệp TP đã xây dựng các mô hình trong rau an toàn theo hướng GAP. Sau hơn 3 năm triển khai thực hiện, mô hình này đã cho thấy những kết quả rất đáng khích lệ. Nhiều nông dân đã biết áp dụng kỹ thuật canh tác mới như dùng giống F1, hạn chế sử dụng thuốc BVTV, phân bón vơ cơ, nhận dạng được các sinh vật gây hại và thiên địch có ích.Từ đó xây dựng được các quy trình canh tác an toàn cho các loại rau chủ lực của mình, như ớt, bầu, bí, dưa beo, khớ qua, mướp, đậu đũa, cà....
Một hộ trồng rau trong nhà lưới ở Tân Phú Trung Củ Chi cho biết:
Có thể nói, việc nhân rộng những mô hình sản xuất rau sạch theo hướng GAP sẽ thực sự làm thay đởi diện mạo của nghề trồng rau ở TP. Cùng với nghề trồng rau an toàn, nghề trồng rau mầm cũng bắt đầu phát triển. Đến nay đã có khoảng 100 hộ tham gia trồng rau mầm, cung cấp cho thị trường mỗi ngày cũng khoảng 5-600 kg rau. Có thể nói đây là một nghề mới rất thích hợp với những vùng đô thị hóa. Bởi chỉ cần một, hai trăm mét vuông đất trở lại, mới hộ nông dân có thể thu nhập ba, bốn chục triệu đồng một năm.
Cùng với cây rau an toan, nghề trồng hoa cũng đang thu hút được nhiều hộ nông dân ngoại thành. Trong đó, cây lan cắt cành được coi là cây chủ lực của thành phố. Hiện diện tích trồng lan đã vào khoảng hơn 80 ha, phần lớn thuộc hai giống Dendrobium và Mokara (chủ yếu nhập từ Thái Lan). Hàng trăm hộ tuy mới trồng lan, nhưng đã có thu nhập ổn định. Với ưu thế là chỉ cần diện tích nhỏ nhưng thu được lợi nhuận cao, nghề trồng 1an rất thích hợp với điều kiện đô thị hóa. Trên một ha đất trồng hoa lan cắt cành, có người như ông Trần Văn Bạch ở Bình Tân có thể thu về trên một tỷ đồng mỗi năm. Tuy vậy, việc phát triển trồng lan vẫn còn nhiều khó khăn. Mặc dù thành phố đã có 9 phòng cấy mô cung cấp hàng triệu cây giống mỗi năm nhưng người trồng hoa vẫn chưa yên tâm cả đầu vào lẫn đầu ra. Gần đây Trung tâm công nghệ sinh học TP tuy mới ra đời cũng đã tiến hành nhân nhanh một sô giống hoa lan để phục vụ phòng trào, dự kiến mỗi năm có thể sản xuất gần 300 ngàn cây giống. Ngoài ra Trung tâm này cũng sưu tầm hơn 250 giống lan các loại tại nguồn gần đa dạng cho nghề trồng lan TP. Hy vùng nghề trồng lan TP sẽ sớm có những giống lan đẹp mang thương hiệu Việt Nam như mong mỏi của ông Trần văn Bạch và của bà con trồng lan.
Bên cạnh những chuyển động trong lĩnh vực trồng trọt, lĩnh vực nuôi trồng thủy sản cũng có những chuyển biến tích cực. Nhiều ao đầm nuôi tôm ở Cần Giờ, Nhà Bè đã sử dụng công nghệ mới xây ao nổi kết hợp lót nilon hay vải bạt, có ao trữ, ao lắng để xử lý nước trước khi bơm vào ao nuôi, có hệ thống quạt nước, sục khí. Nhiều cơ sở còn trang bị cả các thiết bị kiểm tra chất lượng nước để theo dõi môi trường nước. Còn trong chăn nuôi, do quy mô của các hộ ngày càng gia tăng nên việc ứng dụng khoa học kỹ thuật cơ giới hóa nông nghiệp cũng thuận lợi hơn. Nhiều hộ đã tích cực mượn vốn để cải tạo chuông trại, mua sắm máy vắt sữa, máy băm cỏ, máy trộn thức ăn, máy ấp trứng, sử dụng các chế phẩm khử mùi hôi và ứng dụng công nghệ biogas để xử lý chất thải... Đặc biệt ở xã An Phú, Củ Chi còn thành lập một hợp tác xã dịch vụ chăn nuôi heo an toàn, các xã viên đều nuôi heo theo mô hình trại sạch, có thiết bị làm mát, chống tiếng ồn và có máy pha trộn thức ăn khoa học. Hầu hết các hộ đều xây hầm biogas, sắm động cơ phát điện để tận dụng triệt để năng lượng khí sinh học và hạn chế ô nhiễm môi trường.
Anh Huỳnh công Bằng, một hộ nuôi heo phòng lạnh ở xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn nhận xét:
Rõ ràng, nhiều nông dân ở ngoại thành hiện nay rất muốn làm ăn theo cách mới, với những tiến bộ khoa học mới, những cây con giống mới có hiệu quả cao hơn. Tuy vậy việc ứng dụng cách các tiến bộ khoa học vào sản xuất vẫn còn nhiều khó khăn. Nguyên nhân là do chúng ta vẫn chưa có một thị trường công nghệ cao thực sự mà ở đó các doanh nghiệp và nông dân có thể “mua” được những sản phẩm ưng ý với giá “phải chăng”. Nhĩmg khu nông nghiệp công nghiệp cao, trung tâm sinh học của TP... cho đến nay vẫn còn đang triển khai, rất thiếu nhân tài và vật lực. Thành ra, việc đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật về nông thôn1âu nay vẫn chủ yếu thông qua hệ thống khuyến nông nhà nước với sự hỗ trợ của các viện, trường đại học đứng chân trên địa bàn nên kinh phí khá hạn hẹp, thường chỉ dừng lại ở việc làm điểm, xây dựng mô hình. Mặt khác, do chưa chú trọng đầu tư xây dựng một hệ thống “hậu cần” như: sản xuất khung nhà dưới lắp ghép, hệ thống lưới chống côn trùng, hệ thống phun tưới, bón phân tự động hoá ... nên việc triển khai các mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao cũng gặp nhiều khó khăn. Nhiều mô hình nhập khẩu từ nước ngoài về rất tốn kém nên nhiều nông dân phải “tự chế” cho phù hợp với hoàn cảnh của mình. Ngoài ra, việc thiếu quy hoạch rõ ràng cho các vùng sản xuất nông nghiệp cũng khiến cho các địa phương lúng túng trong công tác chỉ đạo, nông dân ngại đầu tư vì sợ quy hoạch giải tỏa. Việc đầu tư cơ sở hạ tầng cho các vùng sản xuất cũng rất hạn chế, nhỏ giọt, nhiều vùng trồng hoa cây kiểng đến nay vẫn thường xuyên bị úng ngập gây thiệt hại nặng nề cho nông dân. Bà con ở nhiều địa phương vẫn phải tự bươn chải, loay hoay tìm đầu ra cho các sản phẩm của mình....
Hy vọng, với những chỉ đạo tập trung và quyết liệt hơn, TP sẽ tiếp tục triển khai thêm nhiều chính sách và biện pháp đồng bộ để ngành nông nghiệp thực sự có bước đột phá mạnh mẽ theo hướng nông nghiệp đô thị - sinh thái, đạt năng suất, chất lượng cao, hiệu quả ổn định và bền vững.
Xuân Thìn
