![]() |
|
Vú sữa ở Vĩnh Kim (Tiền Giang) nổi tiếng là vú sữa Lò Rèn. Ảnh: Nông nghiệp |
Điển hình như Vĩnh Long với bưởi Năm Roi Mỹ Hòa, Tiền Giang có Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim, lúa ở Mỹ Thành Nam, chôm chôm Chợ Lách... và còn nhiều nông sản khác cũng đang áp dụng sản xuất theo quy trình này như nhãn da bò, tiêu Phú Quốc. . . Nhưng những thương hiệu này mới xây dựng đã và đang gặp khó.
Bưởi Năm Roi Mỹ Hòa, Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim, Nhãn da bò và lúa Mỹ Thành Nam Tiền Giang... những nông sản này đạt tiêu chuẩn Global Gap đã phần nào khẳng định sự nhạy bén của bà con thích ứng với nhu cầu thị trường. Nhưng chứng chỉ Global Gap hay VietGap đó chỉ là những tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc cần phải có nếu muốn thâm nhập vào thị trường thế giới, chứ nó chưa hẳn là thương hiệu. Vì thương hiệu sinh ra bởi thị trường, mà hầu hết nông sản Việt Nam không có thị trường ổn định. Nông dân thì bán hàng qua thương lái, còn doanh nghiệp bán qua trung gian, qua nước thứ ba, tất cả đều bán xô và thô. Cũng vì không có đầu ra, dù đạt chứng nhận Global Gap, bà con vẫn bán cho thương lái. Nên giá trị nông sản không tăng thêm, trong khi đó chi phí nhân công tăng, chi phi tái chứng nhận lại rất cao, khiến cho mô hình kiểu mẫu này đang đuối sức.
Mặt khác, thương hiệu không chỉ là nhãn hiệu, tên gọi mà nó còn hàm chứa sở hữu trí tuệ khác như bao bì, mẫu mã, kiểu dáng, quảng bá, tiếp thị, giới thiệu sản phẩm... Tất cả chuyện này không thể bắt người nông dân nghèo làm được, thực tế họ không làm được chuyện này. Đây là trách nhiệm của doanh nghiệp. Chỉ có doanh nghiệp mới hiểu thị trường cần gì, mới có chiến lược phát triển thương hiệu, chiến lược phát triển sản phẩm, rồi họ mới quay lại cung cấp những thông tin đó và đặt hàng với nông dân theo tiêu chuẩn, trọng lượng, mẫu mã .. mà khách hàng cần. Rõ ràng, doanh nghiệp có thương hiệu thì mới cần giữ uy tín, cần tìm những nguyên liệu có chất lượng ổn định. Phân tích về vấn đề này, ông Đoàn Ngọc Phả - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT An Giang cho biết:
Xây dựng thương hiệu phải đi từ cơ sở, từ nông dân làm ra sản phẩm, nhưng phải chăng bấy lâu nay chúng ta xây dựng thương hiệu nông sản trên một lộ trình ngược khi để nông dân tự quyết định mùa này, năm này sẽ trồng loại gì, giống gì, tiêu chuẩn nào dựa trên cảm tính từ những tín hiệu đầy bấp bênh của thị trường. Vì vậy, không thể đơn độc xây dựng thương hiệu được mà chính phủ cùng các Bộ, ngành, địa phương và nông dân cần hiệp lực, coi đây là khâu quan trọng để phát triển kinh tế nông thôn.
Thương hiệu là sự cam kết của người sản xuất với người tiêu dùng. Thương hiệu mạnh giá trị gia tăng lớn, lượng xuất khẩu nhiều. Còn sản xuất nhỏ lẻ như chúng ta đang làm, dù có Global Gap chẳng có ý nghĩa gì. Vì vậy, thương hiệu mạnh là phải có vùng nguyên liệu lớn với chất lượng cao cộng với đăng ký tên gọi. Muốn vậy một trong những giải pháp không kém phần quan trọng là có sự liên kết chặt chẽ giữa 4 nhà. Trước hết, nhà nước phải thể hiện vai trò nhạc trưởng trong quy hoạch, Ông Đoàn Đình Hoàng - chuyên gia tư vấn thương hiệu nhấn mạnh:
Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Châu, Viện Trưởng Viện cây ăn quả miền Nam thì: Vấn đề chính hiện nay là nông dân phải chủ động liên kết, hợp tác với nhau để cùng thống nhất một quy trình sản xuất, trên vùng đất đã được nhà nước quy hoạch sản xuất hàng hóa. Tiến sĩ Nguyễn Minh Châu phân tích:
Đồng tình với ý kiến của Tiến sĩ Nguyễn Minh Châu, ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn - chuyên gia tư vấn thương hiệu nhấn mạnh đến cách nông dân phải chủ động tìm kiếm nhiều doanh nghiệp để có thị trường đa dạng hơn, ông nói:
Song song đó, doanh nghiệp cần phải ý thức hơn trong việc xây dựng thương hiệu. Ông Đoàn Đình Hoàng cho biết thêm:
Rõ ràng, chỉ khi nào xây dựng được thương hiệu cho nông sản, thì Việt Nam mới có đủ điều kiện tạo sức bật cho nông dân, nông thôn và ngành nông nghiệp nói chung và khi ấy chúng ta mới thực sự “bằng vai, phải lứa” với nông sản Trung Quốc, Thái Lan. Còn cứ sản xuất theo tập quán cũ thì nông sản Việt Nam lại tiếp tục ''ngồi chiếu dưới'' so với nông sản cùng loại của các nước khác./.
Kiều Oanh

