Truy xuất nguồn gốc: Không chỉ là mã QR

Truy xuất nguồn gốc không chỉ dừng ở việc dán mã QR lên sản phẩm mà đang chuyển sang yêu cầu doanh nghiệp quản trị dữ liệu xuyên suốt chuỗi cung ứng, từ nguyên liệu đầu vào, sản xuất, vận chuyển, phân phối đến tay người tiêu dùng.

Phát biểu tại tọa đàm “Truy xuất nguồn gốc - Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng” tổ chức ngày 9/9, tại TPHCM, ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, cho biết truy xuất nguồn gốc là quá trình doanh nghiệp quản lý toàn bộ quá trình tạo ra sản phẩm, từ nguyên liệu đầu vào, sản xuất, vận chuyển, phân phối đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng.

2aoboqxtroylgbdtid9nupvh8van6fvvcwqgshke_20260909230118
Ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước.

Theo ông Trần Hữu Linh, thông tin được ghi nhận đầy đủ tại từng khâu sẽ giúp doanh nghiệp theo dõi được đường đi của sản phẩm, đồng thời minh bạch thông tin với người tiêu dùng. Dữ liệu càng đầy đủ, doanh nghiệp càng có khả năng kiểm soát chất lượng, phát hiện bất thường và xử lý sự cố.

Khi một sản phẩm phát sinh vấn đề, hệ thống truy xuất nguồn gốc có thể giúp xác định lô hàng liên quan, khoanh vùng phạm vi ảnh hưởng và tổ chức thu hồi đúng đối tượng, thay vì phải xử lý trên diện rộng.

Đáng chú ý, ông Trần Hữu Linh nhấn mạnh, mã QR hay các hình thức nhận diện khác chỉ là phương tiện để thể hiện thông tin, không phải bản thân hệ thống truy xuất nguồn gốc.

“Có mã QR không đồng nghĩa với việc sản phẩm đã có một hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ. Mã QR chỉ thực sự có giá trị khi phía sau là một hệ thống dữ liệu được doanh nghiệp xây dựng, quản lý minh bạch, có khả năng cung cấp thông tin về quá trình hình thành sản phẩm cho người tiêu dùng”, ông Trần Hữu Linh nói.

Yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng được đặt ra rõ hơn trong bối cảnh gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái diễn biến phức tạp. Thông tư 31/2026/TT-BCT của Bộ Công Thương có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, quy định về truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương.

Theo quy định, doanh nghiệp có thể thực hiện truy xuất trên hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa của Bộ Công Thương hoặc xây dựng hệ thống nội bộ có khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu.

Các thông tin phục vụ truy xuất gồm tên, xuất xứ, hình ảnh sản phẩm, đơn vị sản xuất - kinh doanh, mã truy xuất, số lô/mẻ hoặc số sê-ri, hạn sử dụng và các sự kiện quan trọng trong chuỗi cung ứng. Hệ thống phải bảo đảm dữ liệu chính xác, đầy đủ, toàn vẹn và an toàn.

Từ những yêu cầu trên, truy xuất nguồn gốc đang dần chuyển từ một công cụ để người tiêu dùng kiểm tra sản phẩm thành một hệ thống quản trị dữ liệu bên trong doanh nghiệp. Khi các quy định về truy xuất nguồn gốc từng bước chuyển từ khuyến khích sang bắt buộc đối với nhóm hàng có mức độ rủi ro cao, doanh nghiệp không chỉ cần dán mã QR mà phải xây dựng được hệ thống dữ liệu đáng tin cậy, minh bạch từ đầu vào đến đầu ra.

Đây không chỉ là yêu cầu để chứng minh chất lượng sản phẩm mà còn là “lá chắn” giúp doanh nghiệp bảo vệ thương hiệu, người tiêu dùng và chính mình trong môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh.