Quy hoạch phát triển cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long nhằm chấm dứt khủng hoảng thừa.
(VOH) - Đồng bằng sông Cửu Long vờn có truyền thống nuôi cá tra và cá ba sa từ lâu đời. Cá tra được phổ biến trong ao, đăng quầng, bãi bồi và nuôi lồng bè; cá ba sa chú yếu được nuôi lồng bè trên các con sông lớn thuộc các tỉnh An Giang, Đồng Tháp.
![]() |
Hiện nay cá tra và cá ba sa đã được nơi ở hầu hết các tỉnh trong vùng. Những năm gần đây , Việc nuôi các loài cá này phát triển mạnh nhằm phục vụ tiêu thụ nội địa và cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu. Đặc biệt từ khi chúng ta hoàn toàn chủ động về giống nhân tạo thì nghề nuôi càng ổn, định và có những bước phát triển vượt bậc. Thế nhưng do phát triển một cách tự phát nên khủng hoảng thừa cá nguyên liệu, cả người nuôi lẫn doanh nghiệp chế biến xuất khẩu đều gặp khó khăn. Đến 6 tháng đầu năm 2008 nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL đều tăng cả về diện tích, sản lượng và năng suất bình quân/ha.
Diện tích mặt nước cá tra hiện khoảng gần 6.000 ha. Việc nuôi thương phẩm thâm canh cho năng suất rất cao, cá tra nuôi trong ao đạt tới 200-300tấn/ha, cá tra và ba sa nuôi trong bè có thể đạt tới 100 - 150kg/m3 bè. Đặc biệt, năng suất cá biệt một số ao đạt gần l.000 tấn/ha/năm. Dự 2008, sản lượng cá tra, cá basa sẽ đạt khoảng 1,5 triệu tấn, tăng gần 50% so với năm trước. Do sản lượng cá thịt tăng đột biến, trong khi hoạt động xuất khẩu khó khăn do giá bán thấp, cạnh tranh chào hàng không lành mạnh, bị khách hàng ép giá nên xảy ra tình trạng khủng hoảng thứa trong 1 tháng qua. Lượng cá quá lứa trong dân lên đến con số trăm ngàn tấn. Hậu quả này là khó tránh khỏi, ông Ngô Phước Hậu, Chủ tịch Uỷ Ban cá nước ngọt Vasep nới:
Mặc dù diện tích nuôi được mở rộng, năng suất, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu luôn tăng qua các năm, Song, có thể thấy nghề nuôi cá tra và ba sa vùng Đồng bằng sông Cửu Long chưa thật ổn định và bền vững. Ví dụ như trong năm 2005, nhiều hộ nuôi đã phá sản do thua lỗ hàng tỷ đồng. Cá nguyên liệu giảm giá, tiêu thụ kém do nhiều nguyên nhân như việc EU tăng cường các biện pháp kiểm soát việc sử dụng kháng sinh trong sản phẩm thủy sản của Việt Nam và qui định giới hạn về kháng sinh có trong sản phẩm thủy sản thự phẩm nói chung quá chặt. Nhiều nước áp dụng chính sách bảo hộ bằng các rào cản thương mại và kỹ thuật như vụ kiện chống phá giá cá tra, basa vào thị trường Mỹ. Hoặc do tập trung thu hoạch trước 1ũ gây hiện tượng ''dội chợ'' tăng áp lực trong chế biến, nhưng lại gây khan hiếm nguyên liệu sau mùa lũ. . . Còn năm 2008, do chi phí sản xuất tăng dẫn đến giá thành tăng đã ở mức 14.000-15.500 đ/kg, tương đương với giá bán ở thị trường hiện tại, gây ra nguy cơ thua 1ỗ hầu hết các hộ nuôi.
Trong nuôi cá tra, basa, chi phí thức ăn rất lớn, nên lượng vốn vay mua thức ăn cũng rất lớn; đặc biệt ở giai đoạn trước khi thu hoạch cá thương phẩm. Hiện tại người nuôi đang gặp khó khăn về vốn vay tín dụng tăng và giá bán thấp hơn giá thành. Khả năng các nhà chế biến mua hết sản lượng cá nuôi là khó khăn do biến động bất lợi giữa giá mua nguyên liệu theo đồng Việt Nam với tỷ giá xuất khẩu theo đồng đôla. Thị trường được mở rộng nhưng khá bấp bênh, đặc biệt là tại thị trường Mỹ. Hoặc chất lượng các mặt hàng xuất chưa cao, giá xuất còn thấp, giá xuất bình quân đạt trên 3,O USD/KG chỉ ở một số thị trường như Mỹ 3,OO-3, 19 USD/KG, Australia 3,05-3,16 USD/KG, Thái Lan 3,05 USD; giá xuất bình quân trên 2.72 - 2.92 USD/kg như Tây Ban Nha, Hà Lan , Thái Lan, Mêxicô … cũng chưa nhiều.
Bên cạnh đó, trong sản xuất vẫn tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ về ô nhiễm môi trường, biến động thị trường, giá cả,. . . Hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất ở nhiều nơi còn thiếu, tình trạng cấp phát nước lộn xộn đã gây nên hiện tượng ô nhiễm môi trường. Công tác quy hoạch, quản lý, giám sát vùng nuôi tiến hành chậm; sự phối hợp giữa người nuôi và các nhà chế biến tiêu thụ chưa tốt, thiếu ổn định và bền vững. Liên kết sản xuất giữa người nuôi với doanh nghiệp chế biến tiêu thụ còn nhiều bất cập. Việc mua bán và sử dụng hoá chất, kháng sinh diễn biến phức tạp mà chưa kiểm soát nới. Đề cập về một trong những 1ý do gây ra tình trạng phát triển cá tra tự phát, bà Phạm Thị Thu Hồng, Phó Chi cục trưởng Chi cục thủy sản tỉnh Vĩnh Long cho rằng:
Vấn đề quy hoạch phát triển nghề nuôi cá tra, basa ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã có từ năm 2004 và hiện đang được các cơ quan chức năng của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tính toán điều chỉnh theo hiện trạng hiện nay. Theo đó, các địa phương cần làm quy họach vùng nuôi cho địa phương theo kế hoạch diện tích nuôi dự kiến, thực hiện các quy định về điều kiện cho phép đào ao, nuôi cá như bảo đảm xử lý chất thải, không ô nhiễm môi trường. . . Dự kiến đến năm 2020, diện tích nuôi cá tra sẽ đạt trên 20.000 ha, sản lượng 2,4 triệu tấn, kim ngạch, xuất khẩu trên 2,5 tỷ USD. Vấn đề cần lưu ý và rút kinh nghiệm là việc phát triển cá tra, cá basa phải tuân theo quy hoạch, đáp ứng vừa đủ nhu cầu thị trường để tránh bị rơi vào khủng hoảng như hiện nay
Nguyễn Thắng
















