Với 321 di tích được xếp hạng, 25 bảo tàng, 25 bảo vật quốc gia cùng nhiều di sản văn hóa phi vật thể, TPHCM đang sở hữu một kho tàng di sản lớn và đa dạng. Trong bối cảnh đó, số hóa không chỉ là cách lưu giữ tư liệu, mà đang trở thành một phương thức mới để quản lý, bảo tồn, kết nối và đưa di sản đến gần hơn với công chúng.
Một hiện vật được quét 3D để lưu giữ hình dáng, kích thước. Một công trình được mô hình hóa để theo dõi hiện trạng, hỗ trợ nghiên cứu, phục dựng. Tư liệu trong kho lưu trữ có thể đến với công chúng qua màn hình tương tác hay thực tế ảo.
Phía sau những trải nghiệm ấy là bài toán: dữ liệu được tạo lập, chuẩn hóa thế nào, ai quản lý và làm sao để các bảo tàng, di tích, địa phương kết nối, chia sẻ lâu dài?
Đây là vấn đề đặt ra tại Hội thảo “Số hóa di sản và dữ liệu văn hóa – Kiến tạo không gian sáng tạo và trải nghiệm thông minh”, do Sở Văn hóa và Thể thao TPHCM phối hợp Hội Tin học TPHCM và Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM tổ chức.
Sau sắp xếp địa giới, không gian di sản TPHCM mở rộng đáng kể. Thành phố có 321 di tích được xếp hạng, gồm 4 di tích quốc gia đặc biệt, 99 di tích quốc gia, 218 di tích cấp Thành phố; 25 bảo tàng gồm 13 đơn vị công lập và 12 đơn vị ngoài công lập. Quy mô này đòi hỏi dữ liệu phải có tiêu chuẩn chung, được cập nhật và khai thác lâu dài.
Ông Nguyễn Minh Nhựt, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TPHCM, cho rằng: “Chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản, theo chúng tôi nghĩ, không chỉ là việc đưa một số hình ảnh, tài liệu, tư liệu hay hiện vật hiện có lên môi trường Internet, mà sâu xa hơn đó chính là quá trình thay đổi phương thức quản lý, bảo vệ, nghiên cứu, giáo dục, truyền thông và phát huy giá trị di sản trên nền tảng của dữ liệu và công nghệ số. Dữ liệu di sản được hình thành như thế nào, ai chịu trách nhiệm tạo lập, cập nhật, quản lý và phát huy nó; dữ liệu được chuẩn hóa theo những tiêu chuẩn nào, làm thế nào để dữ liệu của các di tích, bảo tàng, địa phương có thể được kết nối, chia sẻ, khai thác một cách thống nhất và có hiệu quả.”
Bài toán của TPHCM gắn với tiến trình xây dựng cơ sở dữ liệu di sản quốc gia. Việc số hóa cần đi cùng hoàn thiện nền tảng quản lý, quy chế và tiêu chuẩn.
Bà Phạm Thị Khánh Ngân, Chánh Văn phòng Cục Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cho biết: “Chúng tôi cũng có một hệ thống thông tin quản lý riêng, đó là hệ thống thông tin quản lý hiện vật. Với hệ thống nền tảng này, chúng tôi đã số hóa được 100 bảo vật quốc gia, trong đó cũng số hóa 2D và 3D để phục vụ cho việc trưng bày, phục vụ cho việc bảo tồn và bảo quản. Hiện nay 100 hiện vật cũng đã được cập nhật đầy đủ trong cơ sở nền tảng dữ liệu chung. Sắp tới đây chúng tôi sẽ hoàn thiện, trong quá trình vừa làm vừa hoàn thiện nền tảng, vừa hoàn thiện tất cả những quy chế và tiêu chuẩn liên quan đến việc xây dựng cơ sở dữ liệu này.”
Có dữ liệu mới là bước đầu. Chuyển dữ liệu thành trải nghiệm, rồi tạo sản phẩm phục vụ giáo dục, du lịch và công nghiệp văn hóa là yêu cầu tiếp theo. AI, quét 3D, thực tế ảo vì thế cần giúp công chúng khám phá những câu chuyện phía sau hiện vật.
Ông Ngô Hồ Anh Khôi, Phó Hiệu trưởng Trường Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo, Trường Đại học Nam Cần Thơ, chia sẻ: “Có tư liệu số thì ta mới xây dựng được trải nghiệm số, và cái hiện nay khó nhất là cái chỗ sáng tạo số, chứ còn hiện nay phần lớn là chúng ta đang dừng ở cái trải nghiệm số thôi. Vậy tư liệu số thì mình quen với khái niệm là tư liệu di sản rồi. Chuyển đổi số thì phần lớn chúng ta đang dùng dưới góc độ là số hóa, tức là chúng ta đem hết cái gì đó đưa lên trên mạng, đưa lên trên hệ thống quản lý rồi chúng ta dừng ở chỗ đó.”
Càng ứng dụng công nghệ sâu, yêu cầu về tính chính xác, bản quyền, an toàn dữ liệu và tính nguyên gốc càng quan trọng. Trải nghiệm số cần giúp người xem hiểu lịch sử, văn hóa và khơi gợi nhu cầu tìm đến di sản.
Ông Lâm Ngô Hoàng Anh, Phó Giám đốc phụ trách Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, nhấn mạnh: “Hiện vật gốc là linh hồn, công nghệ là đầu mối. Công nghệ không lấn át chứng tích mà phải giúp công chúng quay trở lại với hiện vật thật, với câu chuyện lịch sử và giá trị của hòa bình. Có rất nhiều câu hỏi liên quan tới câu chuyện chuyển đổi số, scan 3D hiện vật và thông tin trên mạng, vậy khách tham quan có còn đến với bảo tàng không? Chúng tôi đưa dữ liệu đến với công chúng để công chúng tạo được sự quan tâm mà đến với bảo tàng. Dữ liệu không thay thế hoàn toàn giá trị nội dung gốc mà bảo tàng đang trưng bày.”
Hiệu quả chuyển đổi số vì vậy cần được đánh giá qua khả năng tiếp cận của công chúng, chất lượng trải nghiệm và giá trị dữ liệu mang lại cho bảo tồn. Số lượng màn hình hay hiện vật được số hóa chỉ phản ánh một phần kết quả.
Trong nhiệm vụ năm 2026, ngành văn hóa TPHCM xác định tiếp tục chuyển đổi số bảo tàng, di tích; hoàn thành cơ sở dữ liệu quản lý di tích, di sản văn hóa phi vật thể thống nhất toàn Thành phố, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa.
Điều này đặt ra yêu cầu phối hợp giữa cơ quan quản lý, đơn vị bảo tồn và doanh nghiệp công nghệ. Mỗi dữ liệu được tạo lập cần có trách nhiệm quản lý rõ ràng, để phục vụ lâu dài cho nghiên cứu, giáo dục và sáng tạo.
Khi dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và khai thác đúng cách, hiện vật có thể được hiểu sâu hơn, ký ức được lưu giữ lâu hơn. Với TPHCM, hình thành hệ sinh thái dữ liệu văn hóa là cách để di sản tiếp tục sống, được kể lại và tạo thêm giá trị trong không gian số.



