Biến đổi khí hậu: Áp lực cho công tác nghiên cứu giống Nông nghiệp - Bài 2: Hy vọng nhen nhóm

(VOH) - Cuối tháng 9 năm 2009 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển giống nông nghiệp với tổng kinh phí trên 60.000 tỷ đồng.Nội dung nhằm khuyến khích tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác nhau, các tổ chức, cá nhân cùng doanh nghiệp được tham gia và được sự hỗ trợ của Nhà nước trong nghiên cứu, chọn tạo sản xuất, kinh doanh giống nông nghiệp.

Nội dung nhằm khuyến khích tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác nhau, các tổ chức, cá nhân cùng doanh nghiệp được tham gia và được sự hỗ trợ của Nhà nước trong nghiên cứu, chọn tạo sản xuất, kinh doanh giống nông nghiệp. Đây thật sự là “cú hích nặng kí” cần thiết để đẩy lĩnh vực nghiên cứu giống nông nghiệp bật xa. Nhất là việc tìm ra những giống cây con có khả năng chống chọi với sự thay đổi bất thường của thời tiết.

Cùng với sự đầu tư của Chính phủ, gần đây Quốc tế cũng có một số chương trình dự án để hỗ trợ Việt Nam đối phó với biến đổi khí hậu. Chẳng hạn, cuối năm 2009, Chính phủ Đan Mạch và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc đã cam kết tài trợ không hoàn lại hơn 60 triệu USD, Nhật Bản cho vay ưu đãi 450 triệu USD, giúp Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu. Tiếp đến, đầu năm 2010, chính Chính phủ Australia và Ngân hàng Phát triển châu Á quyết định tài trợ 1,3 triệu USD giúp Việt Nam đối phó với những ảnh hưởng của tình trạng biến đổi khí hậu tại khu vực ĐBSCL. Như vậy với nhiều nguồn kinh phí trên công tác nghiên cứu giống tất nhiên cũng được hưởng lợi. Tuy nhiên, để có được những kết quả như mong đợi, đòi hỏi các Bộ-ngành cần phân bổ đề tài, chương trình cho hợp lý đối với lĩnh vực này. Vì thực tế cho thấy thời gian qua số lượng đề tài, dự án có liên quan đến nghiên cứu giống thích ứng với biến đổi khí hậu chưa tương xứng. Ông Nguyễn Tấn Hinh – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Bộ NN & PTNT cho biết:

Khi kinh phí đã có thì cách làm và suy nghĩ cũng phải thay đổi. Vì TS Lê Hưng Quốc, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội giống cây trồng Việt Nam cho rằng, việc chưa có đề tài lớn mang tầm quốc gia, tập hợp đông đảo các nhà khoa học, kết hợp chuyên gia về giống với chuyên gia về gen khiến đề tài bị xé lẻ. Có những đề tài “tự nghĩ, tự làm, tự đánh giá”, không xuất phát từ thực tiễn sản xuất khiến sản phẩm đầu ra không ra được đồng ruộng. Chẳng hạn đối với vật nuôi, PGS-TS Đinh Văn Cải, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam nhấn mạnh, hướng cần làm sắp tới là phải chủ động tìm kiếm nguồn gen của những con vật sống trong điều kiện khắc nghiệt; thí dụ như gen của các con bò, con trâu hoang dã ở Châu Phi đang nuôi theo điều kiện quảng canh. Nếu chúng ta nhập về và lai tạo vào những giống cao sản để nó vừa thích ứng với điều kiện môi trường nóng, vừa cho năng suất khá thì rất tốt. Còn đối với heo thì nên tìm lại 1 số gen của những con heo bản địa, heo rừng ở trên Tây Nguyên; lập bản đồ gen của nó để tìm cái gen nào chống chịu tốt nhất với điều kiện khắc nghiệt của khí hậu, sẽ chuyển cái gen này sang những con heo cao sản. Ngược lại công tác nghiên cứu giống vật nuôi hiện nay nên tránh, theo PGS-TS Đinh Văn Cải là:

Rõ ràng trong công tác nghiên cứu làm sao phải vừa giải quyết những yêu cầu đòi hỏi trước mắt của thị trường, của sự nghiệp phát triển kinh tế. Nhưng cũng phải tính đến cái lâu dài để phát triển sản xuất nông nghiệp mang tính bền vững. Công bằng mà nói, chúng ta cũng đã có những đề tài nghiên cứu về giống cây chịu ngập, chịu mặn, tuy nhiên việc dồn sức dồn lực vào công tác này thời gian qua tập trung chưa cao. Hiện tại chỉ mới có 1 số giống cây là đã được chọn tạo và đưa vào sản xuất. Cụ thể, Viện Lúa ĐBSCL đã xác định được 31 giống lúa có khả năng chống chịu khô hạn và 14 giống lúa bố mẹ kháng mặn tốt. Trong đó các giống OM 5464, OM 5166, OM 5629, OM 6677 là những giống có thể chống chịu ở độ mặn 3 – 4‰. Tại Bộ môn Di truyền Giống của Trường Đại học Cần Thơ, thời gian qua đơn vị này cũng đã nghiên cứu tìm được 3 giống chịu được độ mặn cao. Đáng chú ý, nổi trội nhất chính là giống lúa 1 Bụi đỏ Hồng Dân hiện đã được tỉnh Bạc Liêu đăng ký thương hiệu. Đây là giống lúa mùa có nhiều đặc tính tốt như chịu mặn, năng suất khá đạt từ 4 đến 5 tấn/hecta, và lại kháng được rầy nâu. Gần đây Viện Nghiên cứu ngô cũng tạo ra được những giống bắp chịu hạn khá như: LVN14, LVN45, LVN98. Về thủy sản, theo Cục Nuôi trồng Thủy sản, trước mắt với độ mặn trong khoảng 10 phần ngàn trở lại thì những vùng bị ảnh hưởng mặn có thể nuôi những loại cá như: cá chình, cá kèo, rô phi, diêu hồng và nuôi cua. Ngược lại không nên nuôi cá rô đồng và cá chép. Còn đối với cá tra, ông Bùi Đức Quý – Phó Cục trưởng Cục Nuôi trồng Thủy sản khẳng định, cá tra không ảnh hưởng lớn, vì nó cũng chịu được nồng độ mặn 10 phần ngàn trở xuống. Vùng nước lợ lại càng nuôi tốt, do nó ít bị bệnh. Riêng đối với sự tranh chấp mặn-ngọt giữa nuôi thủy sản với trồng lúa, TS Nguyễn Trí Ngọc – Cục trưởng Cục Trồng trọt cho rằng:

Vấn đề phát triển thủy sản hay phát triển trong lĩnh vực trồng trọt phụ thuộc vào điều kiện từng nơi, từng địa phương và chúng tôi thiết nghĩ các địa phương cũng sẽ lựa chọn được những giải pháp tối ưu để phát triển cân đối giữa thủy sản, trồng trọt trong tình hình biến đổi khí hậu. Trong giai đoạn sắp tới, chủ trương của Bộ NN & PTNT là sẽ chú trọng đến hướng nghiên cứu để tạo ra những giống, tiến bộ kỹ thuật mới mà thích ứng với biến đổi khí hậu có thể xảy ra. Vì vậy hy vọng với mức đầu tư thỏa đáng, cũng như sự tập trung nghiên cứu của các cơ quan khoa học thì chúng ta sẽ tạo ra được những giống mới đáp ứng được với yêu cầu sản xuất.

Trường Duy

Bài 1: Nhọc nhằn tìm giống mới