![]() |
| Áp lực dân số luôn là đặt ra cho các thành phố lớn như Hà Nội, Tp.HCM nhiều khó khăn. Ảnh minh họa |
Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực quy hoạch và quản lý đô thị đồng tình với mô hình phát triển “đa cực, đa trung tâm”. Họ cho rằng việc hình thành các chuỗi đô thị vệ tinh đúng ra phải triển khai từ cách đây 15 năm và việc phát triển “nóng” các dự án nhà ở cao tầng tại khu vực trung tâm như hiện nay là bước đi ngược lại với tiến trình. Do đó, để giảm áp lực dân số cho TP.HCM chỉ còn cách thu hút người dân di chuyển sang các tỉnh lân cận và đang phát triển như Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An... Với góc độ của một nhà làm quy hoạch, Thạc sĩ, Kiến trúc sư Nguyễn Hoài Nam, Phó giám đốc Sở Quy hoạch Kiến Trúc TPHCM cho rằng “bài toán” tăng dân số cơ học không riêng của TPHCM mà là bài toán cho toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cũng như bài toán chung của đô thị Việt Nam:
Theo thống kê, dân số vài quận nội thành trong vài năm trước đây có giảm chút ít nhưng việc cho xây dựng quá nhiều cao ốc văn phòng. Nhưng đồng thời cho phép mọc lên nhiều chung cư ở khu vực trung tâm lại sẽ thu hút một số lượng lớn dân cư tập trung vào khu vực nội đô. Điều này sẽ càng tạo áp lực lên hệ thống hạ tầng kỹ thuật vốn đã quá tải. Các doanh nghiệp lớn thì hầu như chỉ tính toán lợi nhuận khi kinh doanh, còn việc điều phối dân cư thì xem như là trách nhiệm của chính quyền. Chính vì vậy mà theo ông Dư Phước Tân, Trưởng phòng Nghiên cứu quản lý đô thị thuộc Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM thì trong mỗi thời kỳ cần có những chính sách linh động giải quyết vấn đề dân nhập cư:
Song song đó, nhiều ý kiến khác cũng đồng tình rằng, Thành phố phải chuyển đổi nhanh hơn nữa cơ cấu kinh tế, theo hướng thu hút lao động có chất lượng cao, có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực lâu dài. Phải xem việc giải bài toán tăng dân số cơ học không chỉ là trách nhiệm của TPHCM mà Chính phủ cũng cần “vào cuộc” để điều tiết phát triển nền kinh tế miền Trung, miền Bắc, miền Nam và miền Tây Nam bộ cho phù hợp.
Hiện nay, TPHCM đang “hút hết” lao động từ các tỉnh bạn, trong khi tại địa phương khác thì lại “khan hiếm” lực lượng lao động. Vì vậy, việc đầu tư để các vùng nông thôn phát triển, nhằm tạo việc làm tại chỗ là một giải pháp tối ưu. Khi đó, sự phát triển của các thành phố tương đối lớn sẽ “chia lửa” cho hai thành phố lớn là Hà Nội và TPHCM. Ngoài ra, một phương án nữa được xem là có thể góp phần kéo giảm di dân vào TP.HCM, đó là việc TP.HCM đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hướng đến các ngành, lĩnh vực có hàm lượng chất xám cao. Điều này nhằm mục đích làm hạn chế người lao động phổ thông nhập cư:
Giải pháp nói trên của ông Lê Văn Thành, Viện nghiên cứu phát triển TPHCM cũng nhận được sự đồng thuận của nhiều chuyên gia khi chúng tôi đặt vấn đề. Bởi thực tế cho thấy gần 2/3 người nhập cư dễ dàng tìm được việc làm sau khi vào Thành phố trong vòng 1 tháng. Liên hệ với trình độ học vấn của nhóm đối tượng này thì khoảng 70% có trình độ văn hoá cấp 1, 2. Bên cạnh mặt tích cực về cung cấp nguồn nhân lực giản đơn cho TP, thì việc trình độ văn hóa chuyên môn tương đối thấp, đa số xuất thân từ nông thôn, chưa quen với lối sống trong một đô thị lớn nên hạn chế trong nhận thức về văn minh đô thị, chấp hành luật lệ giao thông… là điều khó tránh khỏi. Hơn nữa, một bộ phận dân nhập cư xuất phát từ những vùng khó khăn, đến TP trở thành những người không nhà, không nghề nghiệp dẫn đến có nguy cơ cao về an ninh trật tự, tệ nạn xã hội…
|
Luật Cư trú năm 2006 quy định rõ về quyền tự do cư trú của công dân trên toàn lãnh thổ nước Việt Nam. Thế nhưng, di dân tự do đang là một vấn đề lớn trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, liên quan đến mọi lĩnh vực trong đời sống XH. Do đó, giải pháp quản lý hiệu quả việc tăng dân cơ học tại các TP lớn trước hết cần có các chương trình nghiên cứu đồng bộ về di dân và tiến trình đô thị hóa trên cả nước, trong đó cần có các chính sách cụ thể, đặc thù dành cho người nhập cư ở cả địa phương đi và địa phương đến. Được như vậy, bài toán về dân nhập cư mới có thể tìm được hướng ra. |


