"Họ đã đi hầu hết các Nghĩa Trang
Nhiều nấm mồ chưa biết tên bạt ngàn ngang dọc
Cuộc tìm kiếm bao nhiêu năm khó nhọc
Mà nắm đất người thân đau đáu cõi lòng."
(VOH) - Chúng tôi xin mở đầu bài viết của mình bằng những câu thơ xúc động của nhà thơ Đức Tiến viết trong một lần cùng người bạn đi tìm mộ Liệt Sĩ. Dẫu rằng sau gần 40 năm giải phóng, Đảng và Nhà Nước ta vẫn không ngừng chăm lo và nỗ lực thực hiện công tác hậu phương quân đội, trong đó coi trọng công tác tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ. Tuy nhiên, đó đây trên các vùng từng là nơi diễn ra cuộc chiến, vẫn còn ẩn khuất chỗ các anh nằm chưa tìm thấy được. Hiện nay trong số gần 900.000 phần mộ Liệt sĩ quy tập được mới có khoảng 500.000 phần mộ Liệt sĩ có tên, còn lại chưa xác định được tên, hàng nghìn Liệt sĩ vẫn chưa tìm thấy mộ. Còn biết bao người Mẹ, người Vợ, người con trên mọi miền đất nước còn “khóc thầm lặng lẽ” ngóng trông chờ tin các anh trở về.
![]() |
|
Mẹ VNAH bên ngôi mộ liệt sĩ chưa biết tên. Ảnh: Báo Nghệ An |
Với một đứa bé 5 tuổi, làm sao có thể lưu giữ được kí ức của hơn 40 năm sau? Nhưng đối với Chị Đặng Thị Hằng -ở Huyện Hóc Môn-thì lại khác. Chị còn nhớ như in nụ hôn cuối cùng mà ba chị hôn lên trán mình trước ngày ra trận, Ba nói: Ngoan rồi Ba sẽ mua kẹo về cho. Lần đó, Ba đi và mãi không về nữa. Cô bé Hằng và mẹ cứ đợi..và đợi..cho đến tận bây giờ. Cô bé ấy giờ đã là một phụ nữ 48 tuổi, có gia đình và 2 con trai khôi ngô, cùng công việc ổn định, nhưng trong lòng không lúc nào yên vì Ba vẫn chưa về.
Với giọng đứt quãng, chị kể cho chúng tôi nghe về ba của mình: Liệt sĩ Đặng Văn Nga-hi sinh năm 1966 trong khi đang cùng động đội lặn sâu dưới nước đặt bom phá cầu Bà Khế nhằm ngăn chặn không cho Quân Mỹ qua cầu để khánh thành Sân Dù. Ông bị địch phát hiện, lôi lên khỏi nước và cột sau xe zeep kéo đi khắp làng và sau đó chúng bắn chết, quăng xác đi. Dân làng thấy thương nên đã chôn cất dùm. Mẹ con chị mất người đàn ông duy nhất của gia đình từ đó. Sau ngày giải Phóng, 2 mẹ con có đi nhiều nơi để tìm tung tích mộ ông nhưng vô vọng. Chị trăn trở: “Thà ba hi sinh ở đâu xa xôi, đằng này ba ngã xuống ngay trên mảnh đất quê hương, nơi ôm ấp tuổi thơ của ông và những tháng ngày hạnh phúc bên vợ con. Vậy mà”… Bây giờ, mẹ chị-bà Huỳnh Thị Nhoi đã gần 70, chân đã run, mắt đã mờ, không thể đi tìm chồng được nữa. Còn chị, đứa con duy nhất của ông thì vẫn tiếp tục hành trình vừa thay mẹ đi tìm chồng, vừa đi tìm tình phụ tử thiêng liêng cho mình. Chị nghẹn ngào:
“Bám víu những điều trời đất linh thiêng/ Đau đáu mấy mươi năm buồn thương chát mặn/ Bám víu cái sơ đồ của nhà ngoại cảm/ Anh đặt lòng tin vào sự rủi may” Đó là trường hợp của anh Nguyễn Phú Dũng, quê ở Tỉnh KonTum, cũng đã gần 15 năm đằng đẵng với hành trình đi tìm Bố. Bố anh là Liệt sĩ Nguyễn Phú Thiệu- sinh năm 1931-hi sinh ngày 11-8-1968, khi trên đường từ chiến trường B2 vào Miền Đông Nam Bộ. Đến năm 1976, Bộ Chỉ huy Quân Sự Tỉnh Thái Bình mới đưa giấy Báo Tử cho gia đình anh. Lúc Bố ra chiến trận, mẹ anh đang mang thai em gái út được mấy tháng, vậy mà ngày gia đình biết Bố hi sinh thì đứa bé ấy đã tròn 8 tuổi. Mẹ gượng đứng dậy sau cơn đau để dìu dắt 5 người con nên người.
Năm 1997, anh Dũng đến phòng Chính sách QK7, trong hồ sơ gốc có lưu tên Bố, hi sinh tại Bệnh Viện K50 thuộc Cục hậu cần Miền. Anh lặn lội ra Hà Nội nhờ Người giúp và được chỉ dẫn là Bố anh đang nằm trong nghĩa trang Tân Biên-Tỉnh Tây Ninh, nhưng khi anh đến đây xem hồ sơ quy tập thì không đúng. Anh tìm đến các đồng đội của Bố và được biết ông đã được an táng tại một Nghĩa Trang ở Campuchia. Hi vọng vừa lóe lên đã vội tắt khi đến nơi anh mới biết những phần mộ này đã có 1 đơn vị bộ độ quy tập về Việt Nam cách đây 20 năm rồi. Đau đớn và ngậm ngùi, anh bốc một vài nắm đất nơi khu mộ để về thờ. Anh vẫn không từ bỏ quyết tâm, lần dò mãi, anh mới biết số mộ đó được đưa về nghĩa trang huyện Dương Minh Châu-Tỉnh Tây Ninh, có tổng cộng 143 ngôi mộ không xác định được tên, trong đó có Bố anh. Làm sao để biết chính xác ngôi mộ của Bố? Mãi là câu hỏi day dứt trong anh và gia đình, anh Nguyễn Phú Dũng tâm sự:
Đã từng nhiều lần tiếp xúc với người phụ nữ có nụ cười mạnh mẽ ấy, nhưng chưa bao giờ tôi thấy nụ cười chị mãn nguyện như lần này. Chị là Hồ Thị Hồng-hiện là Giám Đốc Trung Tâm nuôi dưỡng người già và tàn tật Thạnh Lộc. Con gái duy nhất của Liệt Sĩ Hồ Đình Hạc- Là Nhân viên Đoàn Bay 919, hi sinh ngày 30-4-1968. Lúc ấy chị mới 6 tuổi, còn quá nhỏ để hiểu hết mọi chuyện, chị chỉ nhớ hồi đó mỗi tối bà Ngoại hay chỉ lên bóng của cái Mùng trên trần nhà rồi nói Ba mày về đó, chị cứ tin như thế. Sau này lớn lên, chị mới tin là Ba mình không còn nữa, đã nhiều lần chị bày tỏ ý định đi tìm nhưng ai cũng khuyên can. Thế nhưng, chị nào có yên, lúc nào cũng đau đáu về người cha của mình. Vậy là chị đã viết thư cho Cục Chính Trị Quân Chủng Phòng Không-Không Quân nhờ giúp đỡ. May mắn đã mỉm cười với chị sau đó không lâu, đầu năm 1997, chị nhận được tin là Ba mình hiện đang nằm tại Nghĩa Trang Thái Lão-Huyện Văn Chấn-Tỉnh Yên Bái. Chị đã tức tốc cùng một người chú và một người Bác của mình đến địa chỉ trên. Giây phút được đứng trước phần mộ có ghi tên Ba mình, chị lặng đi, nghẹn ngào, nước mắt không thể trào ra được…Chị nhớ lại:
Ngày bốc mộ Ba, chị đã đề nghị không mở hòm ra, vì chị sợ….sợ trong đó chỉ là một nắm đất tượng trưng như những gì mà đồng đội của Ba từng nói. Thôi thì, cứ để Ông được ngủ yên, cứ để hình ảnh của người cha trong chị được nguyên vẹn, như thế sẽ bớt đau lòng hơn. Giờ thì chị yên tâm rồi, Ba đã về với quên hương, còn chị-một người con Liệt sĩ-lại tiếp tục với công việc mang nhiều ý nghĩa của mình-chăm sóc những cụ già neo đơn, không nơi nương tựa.
Chiến tranh đã lùi xa, thế nhưng những nỗi đau của nó vẫn còn ám ảnh nhiều mái nhà, nhiều gia đình không trọn vẹn vì có người thân chưa về. Những người con của liệt sĩ vẫn đau đáu đi tìm… Chặng đường còn dài và vất vã, nhưng cứ tin và cứ đi….Nước mắt cũng đừng rơi nhiều mà hãy nghĩ rằng: Bên cạnh các anh là đồng đội, là cây cỏ, là đất mẹ, ôm ấp, chở che... “Không nằm ở nghĩa trang anh nằm với cỏ/ Cỏ nơi này thành hương khói quê nhà.”


