Tháng 9/1962, tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam, Bác Hồ đã nói: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Thật vậy, có nghe được những tâm sự, hồi ức của những nhà báo từng công tác và chiến đấu qua một thời đạn bom, khói lửa, chúng ta mới thấy hết được những gian truân, mới hiểu được mỗi nhà báo khi ấy thật sự cũng là một chiến sĩ với những hy sinh, đổ máu như đang cầm súng trên chiến trường.
Trong những năm 1969 - 1971, Mỹ - ngụy phản kích điên cuồng khắp thành thị đến nông thôn. Chúng giành với ta từng người dân, từng thước đất. Việc đi lại của cán bộ ta để hoạt động cách mạng cực kỳ khó khăn. Phóng viên, cán bộ báo chí của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng chịu chung hoàn cảnh đó. Nhiều bản tin, nhiều tấm ảnh báo chí đã thấm đẫm máu phóng viên. Trung tuần tháng 7/1971, nhà báo Trần Danh Lân được phân công biệt phái về Tiểu ban báo chí Ban Trí vận - mặt trận khu Sài Gòn Gia Định, gọi tắt là Y4. Vài tuần sau, đoàn của ông chia thành nhiều nhóm nhỏ đi sâu xuống sông Sở Thượng, lên tới làng Pô-Thi-Pan, huyện Kor-Thum, tỉnh Cần-Đan của nước bạn Campuchia, cách thị xã Châu Đốc khoảng hơn 30 cây số. Tại đây, một đường dây báo chí đô thị đã được hình thành. Hơn 40 đầu báo Sài Gòn hằng ngày được giấu kín dưới lớp trái cây, hàng hóa của các thuyền máy ngược Long Xuyên, Châu Đốc tới căn cứ tiền phương của Đặc khu ủy, do chính đồng chí Mai Chí Thọ chỉ huy.
Hằng ngày, từ khoảng 1 giờ tới 3 giờ chiều, ông Lân lại vùi đầu vào tìm đọc tin đấu tranh của bà con 36 chợ đô thành chống thuế kiệm ước, thuế giá trị gia tăng, tìm những cuộc đốt xe Mỹ bằng bom xăng, những đêm “Hát cho đồng bào tôi nghe”, những “Đêm không ngủ”, những cuộc xuống đường “Ký giả cạo trọc đầu” chống tăng giá giấy in báo,… Những tin tức đấu tranh như thế được tổng hợp hết sức nhanh chóng, kịp thời gửi ra văn phòng Trung ương Cục. Cuộc đấu tranh truyền thông âm thầm diễn ra, chống lại tiếng nói phản động của các đài địch, góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng. Có một điều mà ít người biết tới, đó là để những tin tức nóng hổi đó được truyền đi nhanh chóng, chính xác, thì những cán bộ báo chí như ông Trần Danh Lân đã phải làm việc trong tình hình vô cùng hiểm nguy, ngàn cân treo sợi tóc. Tiếng “tích tích, te te” của điện đài phát bước sóng âm thanh trên tầng số ngắn của Ban báo chí Y4 đồng thời cũng là tín hiệu báo cho máy dò tín hiệu trên máy bay địch suốt ngày bay lượn trên bầu trời về vị trí, tọa độ chính xác của ta. Rất nhiều lần địch đã cho thả bom, càn quét căn cứ Ban báo chí Y4, thế nhưng nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân, các cán bộ báo chí của chúng ta vẫn an toàn tiếp tục công tác đã được Đảng và Mặt trận Dân tộc Giải phóng tin tưởng giao phó. Nhà báo Trần Danh Lân xúc động chia sẻ:
| Nhà văn - nhà báo Đoàn Minh Tuấn. Ảnh: TTVH |
Còn với nhà văn - nhà báo Đoàn Minh Tuấn - nguyên phóng viên thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Khu 5, thì những năm tháng công tác và chiến đấu tại đây quả thật là những năm tháng “gian lao mà anh dũng”. Trong ký ức của ông, mãi không quên được những đêm vừa viết bài vừa miệt mài đạp máy nổ. Không chỉ có nhiệm vụ tuyên truyền, các cán bộ báo chí khi ấy còn kiêm luôn nhiệm vụ là lực lượng võ trang, khó khăn còn nhân lên gấp bội. Nguy hiểm nhất là những lúc xuống vùng địch chiếm để đưa tin, viết bài. Chỉ sơ suất một chút về tác phong, lời nói là có thể bị địch bắt. May mắn thay, nhờ sự mưu trí cũng như tấm lòng yêu nước, yêu cách mạng của nhân dân mà nhiều lần cán bộ ta thoát được vòng vây của địch. Gian khó là vậy, nhưng không phải không có những kỷ niệm vui. Nhà báo Đoàn Minh Tuấn nhớ lại, khi ấy đời sống anh em phóng viên còn nhiều khó khăn, ngoài giờ công tác, mọi người lại cùng nhau tăng gia sản xuất, trồng khoai mì, nuôi thêm ít gia súc. Ai cũng lạc quan, vui vẻ tham gia, không hề nao núng trước thiếu thốn của bản thân, chỉ một lòng hướng về nhiệm vụ quan trọng của một nhà báo - chiến sĩ. Nhà báo Đoàn Minh Tuấn kể lại một kỷ niệm đáng nhớ trong thời điểm ấy:
Những ngày này, trong không khí hân hoan chào mừng ngày hội lớn của người làm báo, những nhà báo cao tuổi như ông Nguyễn Sơn - nguyên phóng viên Đài Tiếng nói Nam Bộ kháng chiến, lại bồi hồi nhớ về một thời cầm bút giữa mưa bom bão đạn. Ngay sau khi thực dân Pháp nổ súng tái xâm lược nước ta, đáp lại lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Đài Tiếng nói Nam bộ kháng chiến- một bộ phận của Đài Tiếng nói Việt Nam đã chuyển nhân lực máy móc về Đồng Tháp Mười để thành lập căn cứ mới, phục vụ công tác tuyên truyền cho công cuộc kháng chiến cứu nước. Và đương nhiên, địch không thể để ta dễ dàng hoạt động như thế. Nhà báo Nguyễn Sơn còn nhớ như in lần đụng độ với một trận tiến công của giặc Pháp bằng máy bay năm 1950. Chúng hung hãn cho ném bom, bắn rốc-két làm cháy phòng phát thanh và phòng máy đúng vào đầu giờ phát sóng buổi trưa. Bất chấp nguy hiểm, anh em cán bộ báo chí đã xông vào lửa đạn khuân vác máy móc, thiết bị tránh xa đám cháy. Khi ấy anh em còn quý máy hơn cả bản thân, cố gắng làm sao giảm thiểu thiệt hại cho Đài. Không đánh phá được nơi phát sóng của Đài, địch chuyển sang dùng biện pháp kỹ thuật gây nhiễu để xóa tiếng nói của ta. Chúng dùng máy phát sóng mạnh gấp hơn trăm lần máy phát của ta để đuổi theo và đè lên làn sóng yếu hơn. Ta lại né tránh, địch đuổi theo, cứ thế đến hết buổi phát thanh. Cuộc chiến đấu bằng kỹ thuật phát sóng kéo dài 3 tháng, cuối cùng địch bỏ cuộc. Nhà báo Nguyễn Sơn chia sẻ với niềm tự hào:
Trong suốt 7 năm kể từ khi ra đời cho đến buổi phát sóng cuối cùng của Đài vào ngày 1/12/1954, các cán bộ, phóng viên Đài Tiếng nói Nam Bộ kháng chiến đã vượt qua những khó khăn, thử thách ác liệt của chiến trường, phải thay đổi địa điểm hơn 15 lần, từ chiến khu Đồng Tháp Mười đến chiến khu U Minh để hoàn thành nhiệm vụ đưa tiếng nói chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Pháp đến với nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế.
Một thời hoa lửa cũng đã lùi xa, nhìn lại quá khứ, chúng ta lại càng thêm trân trọng những đóng góp thầm lặng của cả một thế hệ nhà báo cách mạng Việt Nam - những người đã ngày đêm miệt mài đấu tranh cho tiếng nói chính nghĩa của dân tộc, của nhân dân. Trong số họ, có không ít người đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường khói lửa hay trong lao ngục của kẻ thù. Đó cũng là lời nhắc nhở các nhà báo trẻ ngày nay, trong hoàn cảnh tác nghiệp thuận lợi hơn xưa rất nhiều thì càng phải xông xáo, kiên trì, sắc bén hơn nữa. Có như vậy mới xứng đáng là thế hệ kế thừa, viết tiếp truyền thống vẻ vang của nền báo chí cách mạng Việt Nam trong thời đại mới.
