Tập kết 1954 - Những ký ức thiêng liêng

(VOH) - Năm 1954, sau khi Hiệp định Genève chính thức được thực thi, cũng là lúc hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ, học sinh miền Nam nhận lệnh tập kết ra Bắc để học tập, sản xuất, chuẩn bị nhu cầu chiến lược về nhân sự cốt cán cho đất nước sau khi thống nhất hai miền. Đây là cuộc chia ly vì nghĩa lớn thiêng liêng, cao cả nhưng cũng hết sức cảm động. Cảnh mẹ tiễn con, vợ tiễn chồng, con tiễn cha trong những ngày ấy đã hằn sâu trong tiềm thức của cả một thế hệ, đánh dấu một mốc son trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

Chúng tôi ghé thăm gia đình ông Nguyễn Văn Tê đúng vào dịp các cựu chiến binh của phường Linh Trung, quận Thủ Đức đang đến thăm hỏi người đồng đội của mình. Ở cái tuổi thất thập cổ lai hy, không phải lúc nào các chú, các bác cũng có dịp hội ngộ, vậy nên câu chuyện giữa những người lính từng một thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” năm xưa cứ nối tiếp nhau không dứt.

Nở nụ cười hiền hậu, ông bồi hồi kể lại cho chúng tôi về quãng thời gian 20 năm “ngày Bắc đêm Nam” của mình. Xuất thân trong một gia đình nông dân, từ nhỏ, ông đã nung nấu quyết tâm theo Đảng, theo Bác Hồ. Mới 14, 15 tuổi, ông xung phong vào đội du kích của địa phương, đến năm 1954 thì chính thức trở thành anh bộ đội Cụ Hồ như ước nguyện. Chiến đấu không bao lâu thì Hiệp định Genève được ký kết, ông bịn rịn chia tay gia đình để lên tàu ra miền Bắc nhận nhiệm vụ, chuẩn bị cho ngày thống nhất đất nước. Ngày ra đi, mưa rả rích, lòng người càng thêm trĩu nặng. Ông còn nhớ như in khung cảnh những người con miền Nam giơ 2 ngón tay - với ý nhắn nhủ người thân hãy cố đợi 2 năm sau sẽ trở về. Người đi - kẻ ở đều vững một lòng tin như thế. Ấy vậy mà 2 năm đã trở thành 20 năm đầy máu và nước mắt của cả dân tộc…

Ra đến cảng Sầm Sơn, đơn vị ông tiếp tục hành quân đến Thanh Hóa. Ông bảo, thời tiết lúc ấy rét căm căm. Biết các cán bộ, chiến sĩ từ miền Nam ra tập kết chưa quen với thời tiết, nhân dân miền Bắc khi ấy đã dành hết áo ấm, chăn bông cho bộ đội, quyết không để bộ đội chịu lạnh. Nhớ về những người mẹ, người chị trên đất Bắc, trong lòng ông Nguyễn Văn Tê dâng lên niềm xúc động:

Ngày mới đặt chân lên đất Bắc xa xôi, ông cũng như bao đồng chí, đồng đội khác luôn cồn cào niềm nhớ thương quê nhà. Thế nhưng, càng nhớ nhà bao nhiêu, họ càng quyết tâm chiến đấu, sản xuất để xây dựng đất nước hòa bình, thống nhất bấy nhiêu. Với bản lĩnh của anh Bộ đội Cụ Hồ, dù nhận nhiệm vụ nào cũng không chùn bước, ông Tê cùng đồng đội lại hăng hái tham gia sản xuất ở nông trường quốc doanh Lam Sơn (Nghệ An). Nắng gió nông trường không làm tắt đi nụ cười của người lính trẻ, và niềm phơi phới lạc quan yêu đời luôn căng tràn trong thế hệ thanh niên miền Nam khi ấy. Cũng chính từ nơi đây, ông Tê đã gặp được người vợ yêu thương của mình - cũng là công nhân của nông trường. Ông bảo, nhờ tình yêu của vợ và các con đã giúp ông vơi bớt nỗi đau chia cắt 20 năm đằng đẵng, không một cánh thư, không một bức điện hay bất cứ thông tin gì từ gia đình ở miền Nam. Trong đáy mắt của người cựu binh già, chúng tôi hiểu được sự day dứt đó…

Một lần chia cắt thôi đã xót xa, thế nhưng năm 1974, ông Nguyễn Văn Tê lại lần nữa phải xa gia đình nhỏ của mình để nhận lệnh vào Nam chiến đấu, chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công năm 1975. Trước khi lên đường, ông gửi lại toàn bộ hồ sơ cá nhân cho Ủy ban Thống nhất Chính phủ. Ông xúc động nói: “Khi ấy, không hiểu sao chúng tôi tin rằng ngày thống nhất đã đến rất gần. Mà đúng hơn là trong suốt 20 năm chia cắt, chúng tôi chưa bao giờ từ bỏ niềm tin vào ngày thống nhất đó của dân tộc. Gia đình, vợ con, chúng tôi cũng xin từ biệt để hoàn thành nghĩa vụ của một người lính với đất nước”.

Cũng giống như ông Nguyễn Văn Tê, với ông Đỗ Văn Dọi (hiện ngụ tại phường 4, quận 4, TPHCM), đi B là một nhiệm vụ thiêng liêng và vinh dự của thế hệ thanh niên miền Nam khi ấy. Theo chân đơn vị, năm 1954, ông Dọi nhận lệnh tập kết ra Bắc, rồi được cử đi học để trở thành cán bộ Sở Tài chính Hải Phòng. Cuối năm 1968, khi đang công tác, ông được lệnh trở về Nam một cách bí mật, tuyệt đối không được để lộ. Chuyến đi gấp gáp, mọi mối quan hệ riêng tư khi ấy đều phải gác lại để hoàn thành chỉ thị của cấp trên. Trong tay ông Dọi khi lên đường chỉ có duy nhất một tờ giấy ghi vỏn vẹn 3 chữ: “Đi ông cụ”, ngoài ra không đem theo bất cứ giấy tờ gì, để tránh bị địch bắt sẽ lộ kế hoạch. Nhắc lại chuyện hành quân từ Bắc vào Nam, ông Dọi vẫn còn nhớ mãi lời của chỉ huy trước lúc lên đường: “Các chú đi vào Nam là phải đi bằng cái đầu!”. Khi ấy không ai hiểu “đi bằng cái đầu” là như thế nào, chỉ tới những ngày đầu hành quân thì ông và đồng đội mới hiểu ý nghĩa sâu xa của câu nói đó. Ông vừa cười vừa kể với chúng tôi, ngày đầu tiên, mỗi chiến sĩ phải vác ba lô nặng 30 ký leo qua ngọn núi cao cả ngàn mét, đi từ 7g sáng đến 8g tối mới tới trạm dừng chân. Suốt 2, 3 ngày như thế thì chân tay ai cũng nhấc không nổi, vậy mà vẫn cứ đi, đi bằng sức mạnh của cái đầu, của ý chí. Tư trang, vật dụng, cái nào bỏ bớt được thì bỏ để dễ di chuyển, thậm chí cả cái nút áo trên quân phục cũng phải cắt bớt đi. Nơi nào địch đánh ác liệt quá thì chuyển qua hành quân đêm. Đồng chí nào khỏe thì giúp người yếu hơn, san sẻ cho nhau từng búp măng rừng, từng củ sắn, củ khoai, với quyết tâm có mặt tại miền Nam theo đúng kế hoạch.  

Ròng rã suốt 4 tháng trời, vượt qua bao nhiêu ngọn núi, con đèo, cuối cùng ông Dọi cùng đồng đội cũng đến được căn cứ Trung ương Cục miền Nam vào đầu năm 1969. Khi chúng tôi thắc mắc không biết điều gì đã mang lại sức mạnh đáng kinh ngạc như vậy, khi một đoàn quân hàng nghìn người có thể vượt qua dãy Trường Sơn đầy hiểm nguy trong một hoàn cảnh đầy thiếu thốn, ông Dọi không do dự mà đáp ngay:

Nhiều năm trôi qua, những nhân chứng một thời đi B như ông Nguyễn Văn Tê và ông Đỗ Văn Dọi cũng không còn nhiều. Những kỷ vật một thời trong quân ngũ giờ đã bạc màu theo thời gian, nhưng ông Dọi, ông Tê vẫn rất trân trọng, nâng niu. Mỗi lần nhìn từng mảnh giấy khen, từng chiếc huân huy chương là những ký ức thiêng liêng, quý giá của người chiến sĩ năm xưa không dễ gì phai nhòa. Trong trường ca “Mặt đường khát vọng”, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm từng viết:

“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta...”

Thật vậy, những người con ưu tú của đất nước dù còn sống hay đã nằm lại với đất mẹ, tin chắc rằng, họ cũng không hề hối tiếc vì đã cống hiến cả tuổi xuân và hạnh phúc riêng tư cho lý tưởng của thời đại, vì non sông đất nước một dải gấm hoa…