Thạnh Phong- Bến cảng lòng dân

(VOH) - Thạnh Phong - căn cứ tiếp nhận vũ khí Bắc - Nam năm xưa - một vùng đất ven biển Đông dãi dầu trong sự khắc nghiệt của thiên nhiên, lắt lay trong gian khó của những năm kháng chiến. Đó là một vùng đất đứng mũi chịu sào, từng nếm trải bao cuộc càn quét đẫm máu của giặc, nhưng vẫn đứng vững, không hề nao núng. Chỉ khi đến Thạnh Phong, rồi nhìn lại đoạn hành trình đã đi, ta mới thấy hết sự heo hút nhưng mang tầm chiến lược của một vùng đất. Chính vì vậy mà ngay thời kháng Pháp, rồi đến chống Mỹ, Cách mạng đã chọn Thạnh Phong làm căn cứ địa và là một trong những bến đến của đường Hồ Chí Minh trên biển. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển, phóng viên Thoại Diễm đã về thăm căn cứ Thạnh Phong năm xưa và giới thiệu đến bạn đọc bài viết “Thạnh Phong- Bến cảng lòng dân”.


Đoàn hành trình theo dấu tích đường Hồ Chí Minh trên biển – Học kỳ trên biển đã cập bến Thạnh Phong.ảnh:VOV

Xuôi về Bến Tre trong những ngày kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển, chúng tôi tìm đến xã Thạnh Phong - xã anh hùng nằm giáp biển huyện Thạnh Phú. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nơi đây với cụm bến Vàm Khâu Băng, Cồn Bửng, Cồn Lợi, Cồn Lớn là mắt xích quan trọng trong chuỗi bến tiếp nhận vũ khí của miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam. Cách thành phố Bến Tre 70km về hướng Đông, từ phà Cầu Ván theo quốc lộ 57 vào đến Thạnh Phong cả chục cây số. Gọi là quốc lộ nhưng đường đi rất hẹp, khúc khuỷu quanh co và lởm chởm đất đá. Nhờ địa hình hiểm trở này, Thạnh Phong 50 năm trước là địa bàn lý tưởng để những con tàu không số bí mật vào ra, tiếp tế vũ khí cho chiến trường miền Nam.
Trong cái nắng, cái gió mơn man mặn mòi hương vị biển, chúng tôi đi tìm những nhân chứng sống của những chuyến tàu Không số năm xưa. Những người con của Thạnh Phong trực tiếp đi làm nhiệm vụ trên tàu không số như Lê Công, Nguyễn Khước thì nay đều đã qua đời. Vận chuyển vũ khí trên biển là nhiệm vụ tuyệt mật nên ở vùng đất cách mạng này, chỉ có những người như bà Tư Nỗi - cán bộ địa phương khi ấy, và ông Bảy Bình - Cựu chiến binh Đoàn 962, người làm nhiệm vụ dò cửa biển mới biết rõ. Ở tuổi gần 80, ông Bảy Bình dáng người quắc thước, cởi mở nồng hậu đậm chất một lão nông Nam bộ. Bên những luống dưa hấu, trái căng tràn ở ấp Thạnh Lợi, ông Bảy Bình miên man kể với chúng tôi về những ngày trai tráng ông đi làm nhiệm vụ đón tàu theo lệnh của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Từ năm 1963 đến năm 1969, bến Thạnh Phong có 27 chiếc tàu Không số cập bến an toàn, thì ông đón đủ 27 chuyến với tổng cộng trên 2000 tấn vũ khí đạn dược. Làm công việc đi dò cửa biển, ông Bảy Bình thông thuộc hết các chuyến tàu Không số cập bến này, nhưng khi ấy thì “sống để bụng, chết mang theo”. Những người như ông trước khi nhận nhiệm vụ phải thề trước Đảng bốn điều: đó là “không thấy, không nghe, không biết, không tò mò”, bởi bất kỳ thông tin nào sơ hở cũng có thể lọt vào tai gián điệp. 50 năm đã qua đi, ông Bảy Bình vẫn chưa thể quên những đêm bơi xuồng luồn lách trong rừng, dò từ cửa Tiểu đến cửa Bá Sắt độ nông sâu của cửa biển, lòng sông, rồi đo tọa độ để tàu cập bến. Theo lệnh của bà Nguyễn Thị Định, nguyên Phó Tư lệnh quân giải phóng miền Nam - Việt Nam , ông dò căn cứ, nơi ăn chốn ở của thủy thủ tàu và cả nơi cất giấu vũ khí. Có những lần ban ngày ông lênh đênh trên chiếc xuồng câu, phóng tầm mắt qua ống nhóm không thấy bóng dáng chiếc tàu lạ nào là bắt đầu công việc dò. Có những chuyến tàu chở vũ khí nặng cả trăm tấn, gặp con nước ròng không vào được bến, từng thùng hàng phải thả ngoài sông, rồi quân và dân Thạnh Phong hợp sức chuyển về nơi cất giấu. Hoạt động trên biển, những ngày biển lặng là đồng nghĩa với hiểm nguy vì phải đối mặt với ra đa, tàu tuần tiễu của địch. Cho nên đời binh nghiệp của ông, ông đã quen làm bạn với những con sóng dữ. Đến tận bây giờ, vào mỗi mùa gió chướng, ký ức về những chuyến tàu Không số lại sống dậy mãnh liệt trong ông. Ông Bảy Bình nhớ:

Những chuyến tàu không số vượt trùng khơi đi nhận vũ khí từ miền Bắc là kỳ tích của những chiến sĩ Đoàn 125 Hải quân. Để tàu cập được bến và vũ khí đạn dược đến được khắp các chiến trường miền Nam là cả một sự hy sinh cảm tử của những chiến sĩ Đoàn 962 và nhân dân miền Nam anh hùng. Mảnh đất Thạnh Phong này từng chứng kiến những trận chống trả ác liệt của quân và dân địa phương để bảo vệ bến, bảo vệ nguồn tiếp tế vũ khí cho mặt trận Bến Tre và các vùng kháng chiến cận kề. Bà Nguyễn Thị Nỗi ở ấp 4, cán bộ hưu trí với 40 năm tuổi Đảng có người anh rể là Hồ Văn U đi chuyên chở vũ khí từ bến này đến các chiến trường Nam bộ, nhớ lại: những năm 1963 - 1964, địch phát hiện ra Thạnh Phong là điểm tập kết vũ khí từ miền Bắc đưa vào, nên chúng bắt đầu những trận càn đẫm máu trên mảnh đất này. Dưới tiếng sóng bổ ghềnh, dưới bom đạn oanh tạc của kẻ thù nhưng đất và người Thạnh Phong vẫn đứng mũi chịu sào, quyết bảo vệ tới cùng căn cứ yết hầu của chiến trường khu 8. Nhớ về những chuyến tàu Không số, vượt đại dương vận chuyển vũ khí ra mặt trận được ngụy trang cẩn mật, bà Tư Nỗi kể:

Năm mươi năm đã qua, Biển Thạnh Phong- Tỉnh Bến Tre trước mặt tôi giờ đây đã thay đổi nhiều, cửa biển thuộc ấp 6 năm xưa nay là bãi bồi, cánh rừng xanh mướt, nơi lưu dấu chiếc tàu của thuyền trưởng Nguyễn Thái Nguyên bị mắc cạn phải phá hủy năm 1965 - đó là chiếc thứ 28 về Thạnh Phong và là chuyến duy nhất tàu phải phá hủy, để tránh lộ cơ sở bí mật tại bến này. Ngày nay, con cháu đất Thạnh Phong vẫn truyền tai nhau về những chiếc tàu nhỏ bé giữa trùng khơi như huyền thoại. Những con tàu ấy chuyên chở trong mình cả những khát khao độc lập, tự do, mãi nhắc nhớ cho thế hệ mai sai về sự cống hiến, hy sinh và tình đoàn kết để xây dựng quê hương. Nói về những chuyến tàu không số, anh Trần Văn Cường - Phó Chủ tịch xã Thạnh Phong không giấu được niềm tự hào khi tâm sự với chúng tôi:

Bên vàm Khâu Băng, bia tưởng niệm “đường Hồ Chí Minh trên biển” với lá cờ tổ quốc cách điệu hình cánh buồm và chiếc mỏ neo vẫn hiên ngang hướng về cửa biển. Đó là Thạnh Phong của Bến Tre trung dũng kiên cường, dấu chỉ của nơi hội tụ bến cảng - lòng dân đã làm nên thế đứng của một miền đất hai lần được phong tặng danh hiệu anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân./.