Tranh tụng lao động phải đơn giản, gọn nhẹ

(VOH) - Dự án Bộ Luật Tố tụng Dân sự (sửa đổi) do Tòa án Nhân dân Tối cao chủ trì soạn thảo đã được Quốc hội thảo luận, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9, nay dự án đang được chỉnh lý, hoàn thiện để trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 10.

Phó Chủ nhiệm UB Các vấn đề xã hội Bùi Sỹ Lợi (Ảnh: Dân trí)

Trong quá trình chỉnh lý Dự án Bộ Luật Tố tụng Dân sự (sửa đổi), Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội lấy ý kiến của các chuyên gia nước ngoài thảo luận sâu để làm sao xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp lao động hiệu quả và tham vấn về quy định tố tụng lao động trong dự thảo Bộ Luật Tố tụng Dân sự (sửa đổi).

Phóng viên VOH phỏng vấn Tiến sĩ Bùi Sĩ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội.

*Thưa ông, tố tụng lao động và tố tụng dân sự có gì khác biệt ?

- Tiến sĩ Bùi Sĩ Lợi: Tố tụng lao động nằm trong phạm vi chung của tố tụng dân sự, nhưng nó hoàn toàn khác ở điểm là người lao động luôn ở thế yếu. Về trách nhiệm chứng minh vụ việc tranh chấp lao động, theo Bộ Luật tố tụng dân sự là người đi khiếu kiện, người đề nghị ra tòa, đó phải là người lao động nhưng hồ sơ thủ tục giấy tờ lại là chủ sử dụng lao động.

Đây là vấn đề rất khác biệt. Ủy ban chúng tôi không phải là ủy ban thẩm tra dự thảo luật này, nhưng chúng tôi có liên quan đến vấn đề tố tụng lao động để điều chỉnh trong luật lao động. Do đó, với tinh thần cầu thị, chúng tôi tiếp thu ý kiến của tổ chức lao động quốc tế và chuyên gia quốc tế đến từ Úc, từ tổ chức quốc tế ILO.

* Chúng ta tiếp thu gì từ mô hình, kinh nghiệm giải quyết tranh chấp lao động - việc làm của nước ngoài khi xây dựng các quy định về tố tụng lao động?

- Tiến sĩ Bùi Sĩ Lợi: Điểm đầu tiên là chúng ta phải khẳng định và nghiên cứu, bổ sung được thẩm quyền của tòa án trong xử lý các vụ tranh chấp lao động. Có nghĩa là các tranh chấp phải liên quan đến tất cả nội dung trong bộ Luật lao động, trong Luật việc làm, trong Luật bảo hiểm xã hội và trong Luật về giao dục nghề nghiệp. 

Kinh nghiệm thứ hai là vai trò của Công đoàn – đại diện cho quyền lợi người lao động, và cũng đại diện đứng ra khởi kiện tại tòa án. Vấn đề này liên quan đến Hội đồng thẩm phán, hội đồng xét xử. Hội đồng xét xử sơ thẩm, hội đồng này chắc chắn phải có ba thành phần, đầu tiên là thẩm phán, còn lại hai thành viên. Từ đây, chúng ta rút được kinh nghiệm: hai thành viên đó, một người là đại diện chủ sử dụng lao động, một là người lao động tranh tụng với nhau để giải quyết vấn đề, hòa giải giữa người lao động và chủ sử dụng lao động.

Vấn đề đặt ra, liệu chúng ta có đại diện cho chủ sử dụng lao động và người lao động ở tất cả các cơ quan tòa án cấp huyện được không ? Công đoàn cấp huyện thì có, nhưng đại diện chủ sử dụng lao động và Phòng thương mại Công nghiệp Việt Nam không có ở cấp huyện. Chúng ta làm gì ?

Chúng ta phải lựa chọn một trong hai phương án. Nếu nơi nào có đại diện hai nơi thì rất tốt, họ bảo vệ cho hai nơi, tranh tụng với nhau để dẫn đến kết luận đúng của tòa án xét xử. Thứ hai, chúng ta phải mời được người đại diện quyền lợi của người lao động, có thể là công đoàn nhưng vấn đề quan trọng là người đó phải hiểu được pháp luật lao động và quan trọng là khi ra tòa, người ta bảo vệ được cả hai phía.

Thứ ba là chứng cứ để chứng minh tại tòa. Lâu nay, Bộ luật tố tụng lao động hiện hành quy định, anh ra khiếu nại, khiếu kiện tại tòa án, anh phải chứng minh, đưa ra các chứng cứ, bằng chứng để giải quyết tại tòa. Nhưng nếu người lao động bị sa thải, hoặc đang mang thai, hoặc vi phạm gì đó mà bị chủ sử dụng lao động buộc thôi việc, sa thải, thì làm sao có bằng chứng ? Để chứng minh thì chủ sử dụng lao động phải đem ra các bằng chứng.

Nhưng nếu chủ sử dụng lao động chỉ chứng minh có lợi cho người sử dụng lao động, rõ ràng người lao động bị thiệt. Người lao động lại phải mang bằng chứng, lý lẽ của mình để tranh tụng tại tòa. Thẩm phán hội thẩm nhân dân người ta cũng phải bảo vệ cho người lao động, đem các chứng cớ để xử lý.

Theo đó, một là người sử dụng lao động đủ điều kiện thì anh mang các bằng chứng, chứng cứ của anh, nếu anh không có điều kiện, không có các chứng cứ thì chủ sử dụng lao động phải trình chứng cứ lý lẽ hồ sơ thủ tục chứ không phải là chứng cứ lý lẽ của anh để bảo vệ cho lợi ích và quyền lợi cho chủ sử dụng lao động, điều này không đúng với tinh thần tranh tụng tại tòa.

Vấn đề cuối cùng là làm sao đó cho quá trình tranh tụng lao động, hay nói cách khác là tố tụng lao động và tranh chấp lao động tại tòa án phải đơn giản gọn nhẹ, có thể chúng ta phải áp dụng án lệ, các vụ án giống nhau trong tòa, không cần phải xem xét điều khoản nào cả. Làm sao đảm bảo nguyên tắc nhanh nhất, tiết kiệm nhất, thuận lợi nhất, tiến bộ, hài hòa và không làm ảnh hưởng đến lợi ích của người lao động với tinh thần bảo vệ cả hai phía, nhưng cần phải quan tâm đến lợi ích của người lao động.

* Một kinh nghiệm ông cho là khả thi nhất trong Luật tố tụng lao động khi tiếp thu ý kiến đóng góp của chuyên gia nước ngoài là gì?

- Tiến sĩ Bùi Sĩ Lợi: Khả thi nhất là bằng chứng chứng minh tại tòa, chủ sử dụng lao động phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ. Đó là lý lẽ rất tốt bởi đảm bảo được lợi ích cho người lao động, nó không đặt người lao động vào thế hoàn toàn bị ép buộc.

Chuyên gia quốc tế nói với chúng ta là không được phép chứng minh theo cách đó mà phải trình bày toàn bộ hồ sơ thủ tục chứng cứ. Trong chứng cứ đầy đủ, doanh nghiệp cũng có quyền nói cái đúng của mình, với điều kiện phải cung cấp đầy đủ chứng cứ trước tòa. Không thể chỉ cung cấp chứng cứ có lợi cho mình, còn những cái không cung cấp thì rõ ràng bất lợi cho người lao động.

* Cảm ơn ông.