Nhớ điện ảnh bưng biền

(VOH) - Trong những ngày cả nước hân hoan chào mừng sự kiện trọng đại của đất nước, 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thì những người yêu điện ảnh lại nhớ về miền ký ức xa thẳm với thước phim cực kỳ quý giá, góp phần tạo nên thành công trong công cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ của dân tộc.

Vào tháng 10/1947, Bộ Tư lệnh khu 8 khi đó đã ra quyết định thành lập "Tổ nhiếp - điện ảnh khu 8 trực thuộc phòng chính trị Bộ tư lệnh khu". Tổ Điện ảnh do ông Khương Mễ phụ trách trong đó có nhiều nhiếp ảnh gia như Mai Lộc, Nguyễn Hiền, Lý Cương, Nguyễn Đảnh, Hồ Tây, Vũ Ba, Trần Nhu, Dương Trung Nghĩa… vừa chụp ảnh, vừa người quay phim. Vậy là nền điện ảnh non trẻ đầu tiên đã ra đời, điện ảnh khu 8 hay còn gọi với cái tên gần gũi: Điện ảnh bưng biền. Đây cũng được coi là tiền đề để vào ngày lịch sử 15/3/1953, tại khu Đồi Cọ tỉnh Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập “Doanh nghiệp Quốc gia chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam”.

Và cũng từ đây, điện ảnh bưng biền đã bắt tay thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, ghi lại những hình ảnh chân thực nhất về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc. Cùng với điện ảnh kháng chiến Đồi Cọ tại chiến khu Việt Bắc, điện ảnh bưng biền  vùng Đồng Tháp Mười đã tạo nên dấu son sáng chói cho một giai đoạn hào hùng không thể nào quên.

Chẳng thể đo đếm hết được những khó khăn khi mới bắt tay vào thành lập, điều kiện vật chất thiếu thốn, địa lý lại gay gắt khi mà "Đồng Tháp Mười", "Bao la bát ngát", "Bưng sậy lên hoang", "Mùa nắng đất khô cỏ cháy", "Mùa mưa nước ngập lan tràn", "Cò trắng ngàn năm bay chẳng dứt", "Chân trời bốn mặt rộng thênh thang”. Rồi máy móc không có để làm, khi có rồi mấy ai biết sử dụng…khó khăn chồng chất khó khăn, nhưng tất cả có chung lòng quyết tâm, sự đam mê nhiệt huyết của các anh vừa là chiến sỹ vừa là nghệ sỹ.

"Cuối tháng 12/1948 là sự kiện ở Đồng Tháp Mười, thời bấy giờ không có điện, nước là nước phèn mà tổ điện ảnh thành lập và làm ra phim. Lúc bấy giờ người ta bảo rằng Việt Minh mà làm được phim thì cái gì nó làm cũng được, kể cả chiến thắng Pháp. Khi làm xong phim thì làm hội trường lớn ở trong một rừng tràm chiếu phim. Hội trường rất hoành tráng, sau khi chiếu phim rồi tan hoang, dân họ chen vô coi đổ vách hết. Sau khi chiếu xong, đồng chí Lê Duẩn nói rằng cần phải phát triển, nhân ra nhiều bản, nhiều đội chiếu để chiếu cho nhân dân, động viên quân đội", nhà quay phim lão thành Hồ Tây nhớ lại.

Cố đạo diễn Khương Mễ khi đang làm việc tại bưng biền. Ảnh tư liệu

Cố đạo diễn Khương Mễ, người anh cả của điện ảnh bưng biền - được nhân dân triều mến gọi là ông Lumière Tháp Mười đã để lại cho điện ảnh cách mạng Việt Nam nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả từ thủ công thay tự động, mà nếu không chứng kiến tận mắt, nhiều người không thể nào tin. Tráng phim thủ công bằng thùng gỗ quay tay, phơi phim trong mùng chống muỗi và bụi. Thiếu nước ngọt để tráng phim thì hứng nước mưa. Và một cách làm cực kỳ sáng tạo, là dùng nước đá để tráng phim đã được áp dụng trong những năm tháng khó khăn ấy, cùng với việc in phim bằng máy quay phim là một sáng tạo mang dấu ấn Việt Nam, khiến những nhà làm phim trên thế giới lúc đó phải khâm phục.

Nhà quay phim Nguyễn Đảnh tự hào kể: "Có một bộ phận tiếp tế đi mua những thiết bị, dụng cụ chuyên môn của điện ảnh, nhưng không có phim 'negative' phải quay thành an-vec-ship, phải tráng 5 ven thuốc, mà nhiệt độ phải 20 độ không bị chảy, anh Khương Mễ và anh Phái đọc sách nghiên cứu mày mò tráng được phim an-vec-ship trong bưng biền. Nước chua, nước phèn Đồng Tháp Mười anh em phải ra sông Mê Kông hàng chục cây số mang nước ngọt về, vận động bà con hứng nước mưa. Bà con rất nhiệt tình. Trước đây không có phim nào tráng thành công, chủ yếu qua nước ngoài tráng, chỉ có điện ảnh bưng biền làm được chuyện này".

“Trận Mộc Hóa” của nhóm tác giả Mai Lộc, Khương Mễ, Vũ Sơn quay từ tháng 8/1948, hoàn tất và chiếu cho nhân dân Ðồng Tháp Mười xem vào ngày 24/12/1948 được coi là bộ phim tài liệu điện ảnh đầu tiên của nền điện ảnh cách mạng Việt Nam. Từ một nền điện ảnh sơ khai, cơ sở vật chất thiếu thốn, điện ảnh bưng biền đã cho ra đời liên tiếp những tác phẩm kinh điển có tác dụng động viên lớn lao tinh thần chống giặc của nhân dân ta như: Binh công xưởng khu 8 (1949), Chiến dịch Trà Vinh, Cầu Kè (1950), chiến thắng Tây Bắc (1952)...

Nhà quay phim Hồ Tây hồi tưởng: "Dân Đồng Tháp Mười chưa biết phim là gì, lần đầu chiếu cho họ xem phải đi động viên dữ lắm, thấy bộ đội bắt tù binh, thu vũ khí người ta phấn khởi lắm. Lúc đó mới mạnh dạn cho con em tham gia vệ quốc đoàn. Một điểm nữa là tham gia đóng thuế nông nghiệp ủng hộ kháng chiến rất lớn vì thấy hình ảnh con em mình xung phong đánh giặc, giết được giặc, nhất là bắt được Tây. Hễ quay phim xuống đơn vị nào là tin rằng mình sẽ đánh trận lớn, mới có quay phim xuống. Thích lắm, bởi vậy động viên được đồng bào chiến sỹ thực tế ở mặt trận".

“Về Đồng Tháp Mười”, là được đặt chân lên vùng “thánh địa cách mạng”, được về với “Thủ đô kháng chiến giữa bưng biền”, là “Việt Bắc của Nam Bộ”, là “mồ chôn giặc Pháp”. Bức tranh hùng vĩ của chiến khu Đồng Tháp Mười trong cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh đã được thi vị hóa bằng thơ ca:

“ Bao giờ hết cỏ Tháp Mười,

Thì dân ta mới hết người đánh Tây”.

Hay:

“Lá tràm xanh che anh giải phóng,

Đánh quân thù sạch bóng xâm lăng”.

Chính vì Đồng Tháp Mười có một vai trò hết sức to lớn như vậy, mà điện ảnh bưng biền đã có dịp phát huy hết sức mạnh của mình, là chứng nhân lịch sử, đã kịp lưu giữ những trận đánh khiến giặc khiếp kinh hồn vía như chiến thắng trận Cổ Cò, trận Giồng Dứa, trận Mộc Hóa, La bang, trận Cầu Kè… làm nức lòng quân dân cả nước. Không chỉ vậy, chính điện ảnh bưng biền đã có công đào tạo lớp thế hệ nghệ sỹ điện ảnh đầu tiên của cách mạng VN, để rồi sau đó lan tỏa và phát triển về các chiến khu khác, tạo nên diện mạo phong phú cho buổi đầu sơ khai thành lập.

"Đây là thời kỳ đầu của điện ảnh cách mạng, thời kỳ mới nhưng đã bám sát vào hiện thực cuộc sống đấu tranh của nhân dân ta, phản ánh kịp thời những chiến công chống thực dân Pháp ở vùng bưng biền. Những bộ phim đầu đã gây được tác dụng tuyên truyền rất tích cực. Và cũng đặt tiền đề cho sự phát triển điện ảnh cách mạng sau này. Lực lượng nòng cốt đầu tiên hình thành nền điện ảnh. Chính nhóm điện ảnh bưng biền còn có một công rất lớn nữa vào những năm 49-50 đã cử một nhóm phóng viên ra chiến khu Việt Bắc, sau khi các anh em ra ngoài này thì điện ảnh miền Bắc mới bắt nhịp và hòa chung vào đấy để phát triển lực lượng miền Bắc", NSND Đặng Xuân Hải, Chủ tịch Hội Điện ảnh VN đánh giá.

Điện ảnh bưng biền đã để lại kho tàng điện ảnh cả nước những thước phim khai sinh ra nền Điện ảnh Cách Mạng Việt Nam. Chẳng những thế, các bậc tiền bối còn nghiên cứu mày mò kỳ công để năm 1951 đã có được những phim kỷ xảo đầu tiên ra đời tại vườn sầu riêng ông Vèo Cần Thơ. 30 phút phim truyện kỷ xảo là một chiến công đáng tôn vinh.           

Đã có một nền điện ảnh được sản sinh từ trong gian khổ, từ trong lửa đạn, những thước phim được đánh đổi bằng mồ hôi, công sức và cả sự hy sinh của các nghệ sỹ, chiến sỹ. Vì vậy chúng ta càng trân trọng hơn những gì mà các bậc cha ông đã làm, điện ảnh bưng biền chính là dấu son đáng tự hào trong lịch sử điện ảnh VN.

Giờ đây, sau gần 70 năm từ cái ngày lịch sử ấy, cảnh cũ ngày xưa không còn, trải qua bao biến cố, đổi thay và xáo trộn của chiến tranh, xã hội thay da đổi thịt từng ngày, nhưng tinh thần cách mạng ngày ấy như vẫn mãi còn vẹn nguyên.

Bình luận