Chiến tranh đi qua, cả nước bắt tay vào công cuộc kiến thiết và xây dựng, trong công cuộc này, ngành khí tượng thủy văn đóng một vai trò khá quan trọng. Vùng biển đảo thiêng liêng của tổ quốc Trường Sa, Hoàng Sa đã từng in đậm dấu chân của những người “chiến sĩ” thầm lặng, cho đến ngày nay nhiều thế hệ vẫn tiếp tục bám trụ trên biển để đưa về cho đất liền những thông tin quý giá về thời tiết.
Ông Phan Thanh Minh, nguyên Giám đốc Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam bộ trầm ngâm nói, nhắc đến nhà giàn, thì nhiều người nhớ đến các chiến sĩ, các cán bộ khí tượng thủy văn là bộ phận dân sự nhưng cũng phải xem họ là những chiến sĩ thì mới đúng, bởi cùng ăn, cùng ở, cùng làm và nếu cần thì cũng cầm súng như những chiến sĩ thực thụ, thậm chí có những thời điểm ngặt nghèo, nếu chưa được lệnh rút thì họ vẫn sẽ bám chốt cho đến giờ phút cuối cùng.
Ông nhớ lại vào thời điểm năm 1980, khi đó, ông là một trong những người nhận nhiệm vụ ra Trường Sa lắp đặt máy móc thiết bị cho trạm nghiên cứu khí tượng thủy văn, thuộc sự quản lý của Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam bộ. Ông cùng nhóm công tác nhanh chóng lắp đặt thiết bị trên trạm khí tượng hải văn DK1/7. Lúc ấy là máy Motorola, khi nghe được tiếng của đất liền, cả nhóm các chiến sĩ ùa lại dù chỉ là những thuật ngữ chuyên môn nhưng ai cũng vui và hào hứng lắm. Thế hệ đầu tiên, cũng như các đảo chìm, gọi là nhà giàn nhưng thực ra là cái pông tông đơn giản thô sơ, hình dung như một chiếc phao lớn hình khối rỗng, kín nước, được neo đặt trên nền đá san hô, sóng cấp 3 thôi thì nó cũng đã xê dịch. Phải ở trong tình trạng lúc nào cũng bồng bềnh như vậy, với các chiến sĩ đã đào luyện trong môi trường quân đội khắc nghiệt còn thấy khó khăn, huống hồ chi là các cán bộ khí tượng, thủy văn lần đầu tiên nếm mùi sóng gió. "Dù thời tiết rất nguy hiểm, gọi có khi nửa tiếng mới nghe được, nhất là khi trời bão, xen giữa tiếng nói là tiếng bão rồi tín hiệu nhiễu nhưng anh em vẫn phải làm, chưa kể còn phải sẵn sàng chiến đấu. Ấn tượng lớn nhất của tôi là hồi đó, có một anh xung phong ra nhà giàn, anh ấy ở lại 6 tháng, sau đó xin ở tiếp 6 tháng để về nhà có tiền cưới vợ, nhưng khi về đến đất liền thì anh có hiện tượng teo cơ, bây giờ anh ấy không còn làm trong ngành khí tượng thủy văn nữa nhưng tôi vẫn còn nhớ mãi. Cái day dứt của chúng tôi tới bây giờ, việc đáp ứng cho các anh em ngoài đó vẫn chưa được đầy đủ. Rất nhiều nơi không hiểu được trên những nhà giàn có cán bộ khí tượng thủy văn", ông Phan Thanh Minh cho biết.

Đo đạc, thu thập dữ liệu về thời tiết trên sân thượng trạm DK 1/7. Ảnh: TPO
Anh Phạm Xuân Trường – Trưởng trạm khí tượng hải văn DK 1/7 có thâm niên 10 năm trên nhà giàn từ những ngày đầu thành lập trước khi được cử về đất liền làm công tác quản lý còn nhớ hoài chuyến hành trình đầu tiên ra nhà giàn nhận nhiệm vụ. Anh cười, kể sao hết những khó khăn của nghề, nhưng sợ nhất là những khi trời bão, nhắc đến cơn bão số 10 năm 1990, thời điểm những cột sóng cao như tòa nhà 15 tầng cứ thi nhau đổ xuống, nhà giàn rung lắc, nghiêng ngã, bộ phận quân sự đã được lệnh sơ tán nhưng các anh thì vẫn ở đó ôm chặt các thiết bị trong lòng để tiếp tục chuyển tin cho đất liền. Chỉ đến khi lãnh đạo cảm thấy không thể chần chừ chỉ đạo rời vị trí, các anh mới đi, chứ nếu không chắc vẫn sẽ cố gắng cho đến giây phút cuối cùng. "Kỷ niệm của tôi là đi đúng 1 tháng không lên được lô, phải quay lại đất liền chờ hơn 1 tuần mới ra lại được, trong 25 năm thì có rất nhiều kỷ niệm, như những lúc bão hay tàu Trung Quốc lượn xung quanh thì mình lúc nào cũng phải sẵn sàng chiến đấu. Chúng tôi phải phối hợp với quân đội, sinh hoạt như chiến sĩ, sau một thời gian sống trên đó thì có kỹ năng thay đổi cho phù hợp. Đến bây giờ đôi khi cũng còn nằm mơ mình ở ngoài lô và công tác cùng với anh em", anh Xuân Trường chia sẻ những kỷ niệm về những năm làm việc ở nhà giàn.
Cũng đã có dịp trải nghiệm 3 năm trên nhà giàn, anh Bùi Công Chinh hiện đang công tác tại Trạm khí tượng thủy văn Đồng Xoài - Bình Phước thì nhớ hoài cái ngày đầu tiên lên nhà giàn và được phân công nhiệm vụ nấu cơm. Do chưa có kinh nghiệm nấu trong thời tiết sóng to gió lớn nên cơm không chín, dù vậy tất cả các chiến sĩ đều ăn hết sức nhiệt tình. Và khi rời khỏi nhà giàn hành trang mà anh mang theo, ngoài những kiến thức đã thu lượm được thì còn là tình cảm ấm áp của những người lính biển biển. Anh Chinh nhớ lại: "Xa gia đình, phương tiện thông tin liên lạc lúc ấy chưa được như bây giờ, viết thư về nhà 5-6 tháng thư mới về tới, sáng ra là nhớ nhà nhất, rồi đến chiều, nhìn những đám mây ở cuối chân trời mình cứ nhớ đến quê. Mùa mưa thì đỡ, còn mùa nắng, nước ngọt là điều khủng khiếp nhất, chỉ được 1 ca nước vừa đánh răng rửa mặt nhưng phải tận dụng lại để tưới rau. Bể nước bằng sắt nên rỉ sét, anh em trên đó đa phần đều bị vàng da, nhưng ở trên đó, chúng tôi giống như một gia đình, chia sẻ với nhau miếng cơm, đũa rau và cả những món quà mà gia đình gửi".
Mấy mươi năm đã trôi qua, cuộc sống của nhà giàn cũng đã khác xưa, thông tin liên lạc liền mạch, máy móc thiết bị đã hiện đại hơn, một số trạm đã theo hướng tự động hóa như DK 1/4, các anh cũng thường xuyên gọi điện thoại về đất liền mỗi ngày để trò chuyện với người yêu, với gia đình. Nhưng những ai đã từng làm việc ở nhà giàn thì lâu dần tình yêu biển đảo ngấm sâu vào máu thịt không thể tách rời. Như hành trình của anh Hoàng Quốc Việt, sinh ra và lớn lên ở đất Sài Gòn, ra trường năm 22 tuổi, anh tình nguyện xin đi nhà giàn. Lãnh đạo đài khí tượng thủy văn khu vực Nam bộ khi ấy sợ anh không chịu nổi sóng gió đã liên tục làm công tác tư tưởng. Nhưng không thể thuyết phục được anh thay đổi ý định của mình nên đã chấp thuận. Sau khi từ nhà giàn trở lại đất liền, vì vẫn còn muốn cống hiến sức mình cho biển đảo, anh đã xin lãnh đạo cho ra Thổ Chu để đặt trạm ở đây. "Qua thời gian làm việc ngoài đó được tiếp xúc chung với các anh em thì tôi có được tính kỷ luật, chẳng hạn như giờ giấc phải nghiêm túc mặc dù diện tích của nhà giàn rất nhỏ. Ở Thổ Chu thì cuộc sống đỡ vất vả hơn nhà giàn nhưng cũng khắc nghiệt không kém có khi 2-3 tháng mới có một chuyến tàu cập đảo để tiếp tế lương thực", anh Việt nói.
Không ồn ào và ít khi được giới truyền thông nhắc tới, chế độ đãi ngộ cũng có những điều chưa thỏa đáng dù công việc của họ cũng khắc nghiệt không kém những người lính biển nhưng những chiến sĩ khí tượng thủy văn trên nhà giàn dù có vất vả, phải đối mặt với không ít áp lực, hiểm nguy thì trái tim yêu nghề chính là sức mạnh lớn nhất để họ tồn tại. Bởi lẽ “nơi anh tới là biển xa, nơi anh tới ngoài đảo xa” nên những năm gần đây danh sách những cán bộ tình nguyện ra nhà giàn mỗi lúc một dày thêm và với họ đó chính là quá trình rèn luyện cũng như góp chút sức mình cho quê hương, đất nước.






















