100% người dân TP sử dụng nước sạch : Có kịp tiến độ ?

(VOH) - Nghị quyết 28 của HĐND TP, cuối năm 2015, 100% người dân thành phố có nước sạch để sử dụng nhưng chỉ còn 6 tháng cuối năm, khó mà giải quyết những tồn tại về chính sách, vốn và xã hội hóa đầu tư cấp nước….

Ngoại thành vẫn thiếu nước sạch 

Những lần giám sát gần đây nhất của HĐND TP cho thấy nước sạch đang là vấn đề đau đáu của một số cụm dân cư ngoại thành.

Huyện Bình Chánh có hơn 133.000 hộ song tỉ lệ hộ dân có nước sạch sử dụng chiếm tỉ lệ chưa tới 50%, còn lại là nguồn nước không hợp vệ sinh chiếm tỉ lệ khá cao. Đặc biệt tại một số xã: Tân Nhật, Vĩnh Lộc A, Đa Phước, người dân sử dụng nước giếng khoan là chủ yếu, không đảm bảo vệ sinh do nhiễm phèn, cũng có khu vực dù đã xử lý nước từ giếng khoan, nhưng vẫn không sử dụng được, một số khu vực đã lắp đồng hồ nước song chất lượng không như mong muốn. 

Nhiều người chờ mua nước sạch của một hộ dân trên đường An Hạ, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, TP.HCM - Ảnh: Quang Khải (TTO).

Khó khăn hơn là huyện Cần Giờ, do nước ngầm bị nhiễm mặn, nước sinh hoạt của SAWACO (chiếm tỉ lệ 63%) đến với người dân bằng các phương tiện chuyên chở, còn lại do các vệ tinh tại địa phương cung cấp. Tuy nhiên, năng lực của các vệ tinh này có giới hạn, không thể đấu nối vào hệ thống nước thuỷ cục của thành phố. Các hộ dân tại hẻm Sở Rác, ấp Bình Lợi – Bình Khánh không có nước sạch sử dụng, phải đổi nước lẻ với giá từ 90.000 đến 120.000đ/m3 - mức giá quá cao so với thu nhập bình quân của những hộ dân nơi đây. Khu vực ấp Doi Lầu - Rạch Lá, An Đông và một phần ấp An Hòa… cũng không hơn gì, với mức giá bình quân 80.000/m3, các hộ dân phải thấp thỏm đợi những chuyến ghe... Về chất lượng nước thì vô chừng, một số hộ dân Ấp Rạch Lá, Xã An Thới Đông dẫn chứng : "Trời mưa thì hứng nước mưa, còn tháng nắng phải chờ ghe vào đổi, nếu ghe không vào thì phải đi bộ ra ngoài lộ để đổi nước. Chất lượng nước khi mặn, ngọt, vàng khè đôi khi uống không được phải đổi nước bình để uống..."

Tại huyện Củ Chi, số liệu cho thấy toàn huyện chỉ có 3% người dân sử dụng nước sạch (trên tổng số 397.00 hộ) chủ yếu tập trung tại thị trấn, số hộ còn lại sử dụng nguồn giếng khoan.

Không chỉ ngoại thành, đáng chú ý là khu vực nội thành như: quận 12, quận 8, quận Bình Thạnh.. vẫn tồn tại hàng trăm hộ sử dụng giếng khoan, đặc biệt là nguồn nước ngầm này lại không đảm bảo vệ sinh. Qua lấy 33 mẫu nước kiểm tra tại 9 phường ở quận Bình Thạnh thì có đến 30 mẫu chưa đạt chuẩn an toàn. Tại quận 12, người dân khu phố 2, phường Tân Chánh Hiệp cho hay nguồn nước giếng khoan ở đây bị nhiễm phèn nặng nhưng cũng phải chịu vì nguồn nước thủy cục chưa có.

Trong lần giám sát về việc cung ứng nước sạch tại một địa phương, quá bất ngờ trước sự chênh nhau trên văn bản và thực tế, ông Phạm Văn Đông, Trưởng ban Kinh tế Ngân sách HĐND bức xúc cho rằng : “Hiện nay chúng ta đang loay hoay quanh chỉ tiêu về nước sạch mà Nghị quyết 28 - HĐND đưa ra, rõ ràng đây là một áp lực nhưng đối với một số cán bộ công chức, chúng ta không thể thoái thác khi dân rất cần, không thể để người dân phải tự gánh từng đôi nước đi hàng cây số. Biết bao chủ trương đưa ra nhưng chính quyền địa phương không thực hiện”. Ông Đông nhấn mạnh, bây giờ mình nói "chờ đường ống nước tới thì dân mới có nước xài", mình nói điều đó được không ? Tôi cho rằng hiểu vấn đề, đặt vấn đề chưa hợp lí".

Bất cập và giải pháp tình thế

Theo khẳng định của bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, Chủ tịch HĐND TP, đến cuối năm 2015 thì 100% người dân thành phố phải có nước sạch sử dụng, đến thời điểm này xem như Nghị quyết 28 đã đi được nửa chặng đường. Như vậy, hai quý còn lại của năm, nơi nào người dân chưa có nước sạch sử dụng thì trách nhiệm của chính quyền địa phương phải lo để hoàn thành.

Trong khi đó, những khó khăn, bất cập nhiều năm liền vẫn chưa giải quyết xong như: hoàn tất các dự án cấp nước huyện Cần Giờ, phủ mạng lưới đường ống cấp 2, 3 quận 12, xây dựng mạng lưới cấp nước huyện Củ Chi…. Tất nhiên chưa có sự thống nhất cao và các sở ngành chức năng có liên quan đến vấn đề cung ứng nước sạch cho người dân mà cụ thể là Sở GTVT, Sở Tài Chính, Sở Kế hoạch - Đầu tư, SAWACO và chính quyền địa phương… Đó là một trong những lí do khiến cho các dự án cấp nước kéo dài hàng năm trời vẫn chưa thống nhất triển khai.

Theo ông Bạch Vũ Hải, Phó Tổng giám đốc SAWACO, các công ty cổ phần cấp nước đã có bản quy hoạch chi tiết 1/500 về xây dựng đường ống cấp 1, 2 trên từng quận huyện. Nhưng để đầu tư vào một công trình, (theo thủ tục, không được chỉ định thầu) từ lúc khởi công đến khi kết thúc, nhanh nhất cũng mất 6 tháng. Trong khi đó, quyết định đầu tư nay không còn do SAWACO quyết định mà do các cổ đông quyết định (theo Luật doanh nghiệp dù SAWACO có nắm trên 51% cổ phiếu). Ông Hải cho hay: “Thực hiện cổ phần hóa là hợp lý nhưng đối với các cổ đông, vấn đề lợi ích được đặt lên hàng đầu. Chẳng hạn như đầu tư một đồng hồ nước 5 triệu, 50 triệu thì chúng tôi không biểu quyết cái này. Rõ ràng, dù SAWACO có 51% cổ phần cũng không thể quyết định vì liên quan đến lợi ích của tập thể”.       

Ông Nguyễn Hữu Tín, Phó Chủ tịch UBND TP, đang kiểm tra chất lượng nước tại một nhà dân ở quận 12 - Ảnh: PLO.

Để giảm bớt chi phí và gánh nặng cho ngành nước, theo chủ trương xã hội hóa thì Nhà nước, doanh nghiệp và người dân cùng làm, nhưng chi phí đầu tư quá cao, người dân không gánh nổi. Chẳng hạn như xã Tân Kiên, còn 13 tuyến đường chưa phủ ống, tổng số hộ dân là 150 hộ, kinh phí đầu tư khoảng 1,6 tỉ - nghĩa là mỗi hộ phải đóng 10 triệu đồng - trong khi đó thu nhập bình quân/năm của người dân chỉ ở mức 25 triệu đồng. Vậy nên, chủ trương xã hội hóa như một “cứu cánh” về nước sạch cho người dân lại trở thành khó khăn. Bà Phạm Thị Mỹ Khuyên, phó chủ tịch xã Tân Kiên cho biết: “Vận động kinh phí trong dân, thì mỗi năm công ty sẽ trả lại 10% nhưng bỏ ra 10 triệu để ứng kinh phí cấp nước thì người dân thực sự khó khăn”.

Tại huyện Cần Giờ, hình thức xã hội hóa vấn đề cấp nước trước đây không quy định về tiêu chuẩn đường ống phân phối nước, sau khi SAWACO đầu tư mạng cấp III thay thế, các trạm cấp nước vệ tinh đang phân vân không biết có được đền bù, hỗ trợ hay không, nên không dám đầu tư thêm. Đây cũng là một khó khăn để thực hiện xã hội hóa.

Trong lần giám sát về nước sạch, bà Trương Thị Ánh, Phó chủ tịch HĐND TP nhấn mạnh: ”Thứ nhất, chúng ta phải tập trung trong địa bàn thiếu nước sinh hoạt. Thứ hai là phân phối nước cho các hộ dân sống rải rác, thứ ba là chú ý đến chính sách cho các hộ nghèo”.    

Bồn nước trung gian và trạm bơm được lắp đặt tại nhà ông Lại Khánh Trắng (ấp 3, xã Phong Phú, huyện Bình Chánh) cung cấp nước sạch cho khoảng 40 hộ dân xung quanh - Ảnh: TTO.

Trước mắt, chính quyền quận, huyện đang tích cực triển khai dự án mạng lưới cấp 2, cấp 3,  lắp đặt bồn nước, đồng hồ tổng, chở nước bằng xe bồn, hay kéo đường ống nước sạch trong điều kiện cho phép, hỗ trợ xử lý nước giếng khoan tại nguồn … riêng huyện Củ Chi hiện có nhà máy nước kênh Đông, có thể đáp ứng nhu cầu 50% nước sạch cho người dân. Ông Nguyễn Hữu Hoài Phú, phó chủ tịch huyện Củ Chi cam kết: “Giải pháp thứ nhất là đặt bồn, thứ hai là nâng cấp 12 trạm hiện hữu và cuối cùng là lắp đặt hệ thống xử lý cục bộ dành cho các hộ sống rải rác, ở nơi mạng lưới không tới được. Ba giải pháp này được xem là tình thế để trong năm 2015 thì dân có nước sạch sử dụng”.     

Theo Tổng công ty cấp nước Sài Gòn từ nay đến hết năm 2015, tổng công suất cấp nước có thể lên đến 2,2 triệu mét khối/ ngày, đảm bảo cung ứng nước sạch đầy đủ cho người dân thành phố. Tuy nhiên, để nước sạch phân phối đến từng hộ gia đình thì đòi hỏi nguồn kinh phí đầu tư mạng lưới đường ống rất lớn, cần lộ trình.

Bình luận