![]() |
| Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thị Hồng trong một chuyến khảo sát điểm du lịch chiến khu Rừng Sác, Cần Giờ |
Nơi đây ngày xưa, cánh rừng đước này từng che chở cho Bộ đội, làm nên những huyền thoại về những chiến công vang dội của bộ đội đặc công Đoàn 10 Rừng Sác. Trong chiến tranh, các chất độc hóa học, chất da cam đã hủy hoại gần như toàn bộ những cánh rừng nơi đây thì nay trở thành vốn quý được Tổ chức Unesco công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Câu chuyện ươm trồng và phát triển rừng ngập mặn Cần Giờ là cả một quá trình dài đầy gian khó. Đó không chỉ là niềm đam mê của các nhà khoa học, cán bộ ngành Lâm nghiệp TP, mà có sự đầu tư của lãnh đạo TP và bao mồ hôi, công sức của những người nông dân bám đất giữ rừng. Trò chuyện với một số nhà khoa học, chúng tôi biết, khi bắt tay khôi phục rừng Cần Giờ, lúc đó, ngành Lâm nghiệp TP đứng trước các luồng ý kiến nhiều chiều: Người thì bảo khu này nên trồng dừa, nhiều ý kiến lại bảo nên trồng cỏ để nuôi gia súc. Tuy nhiên, với góc nhìn chuyên môn, cán bộ ngành Lâm nghiệp vẫn giữ vững quan điểm: “đất nào thì trồng cây nấy”. Họ đi đến quyết định phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ bằng các loài cây bản địa. Tiến sĩ Lâm nghiệp Viên Ngọc Nam - chuyên gia hàng đầu về rừng ngập mặn Việt Nam cho biết thêm:
Loài cây được chọn trồng thời điểm đó là cây đước. Theo Tiến sĩ Viên Ngọc Nam, trái đước là trái thai sinh, nghĩa là trái có cây con trên cây rồi, nên khi đem trái về không cần phải gieo ươm gì cả, mà cắm thẳng trái đước xuống bùn, nó sẽ mọc lên thành cây. Ngoài ra, đước còn có lợi thế là tốc độ tăng trưởng tự nhiên nhanh nên có khả năng sớm phục hồi rừng. Đây cũng là loài cây có giá trị kinh tế cao nhất của rừng ngập mặn. Nói về việc quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn, phòng hộ Cần Giờ, ông Cát Văn Thành, Phó Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ cho biết:
Nhớ lại những năm tháng đầu đi tiên phong khôi phục rừng, Tiến sĩ Lê Đức Tuấn - 1 trong số 250 thanh niên xung phong đầu tiên tham gia trồng rừng cho biết: Lúc đó, TP huy động toàn bộ lực lượng lao động của TP trong độ tuổi lao động ở các tập đoàn sản xuất tại địa phương, các nhà khoa học lâm nghiệp, cùng hai tổng đội của thanh niên xung phong gồm 250 người chuyển ngành về được đào tạo lại để hướng dẫn nhân dân địa phương trồng rừng... Nói về sự quan tâm của Tp đối với việc phục hồi và bảo tồn “khu dự trữ sinh quyển Thế giới” này, Tiến sĩ Lê Đức Tuấn - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu rừng ngập mặn Cần Giờ khẳng định:
Trong muôn vàn khó khăn buổi đầu, không ít người đã nghĩ nơi đây không thể hình thành một cánh rừng xanh tốt được, bởi một thực tế khi ấy màu xanh của rừng thật nhạt nhòa giữa sinh lầy rộng lớn! Để ươm cây, trồng lại những cánh rừng, bấy giờ giống trái đước phải chở từ Cà Mau về TP, vì nguồn giống tại chỗ hoàn toàn không đủ cung ứng. Trong khi hầu hết đất trống, bao gồm cả bãi bùn đều phải được ưu tiên phủ xanh bằng trái giống hoặc cây con. Mà trái đước quá nhỏ bé, khi cắm xuống bùn đất thì phải mất một năm mới thấy lá và 3 năm sau mới khép tán thành rừng...
![]() |
| Trồng cây ngập mặn, Ảnh minh họa. |
Ngồi nhắc chuyện xưa với chúng tôi, ông Tuấn bật cười khi nhớ lại chuyện trồng rừng ngày trước. Hồi đó, lực lượng chính được điều động đi trồng rừng là đàn ông. Tuy nhiên, trồng đước đi theo kiểu thụt lùi như cấy mạ. Mỗi người đeo một cái túi đựng trái giống trước ngực lội dưới sình lom khom cắm đước nhiều nên rất dễ bị đau lưng… Sau nhiều lần hội ý kiến, mọi người đã thống nhất 1 phụ nữ và 1 đứa nhỏ có thể thay thế tốt hơn đàn ông trồng rừng. Những đứa trẻ vóc dáng nhỏ, đi trên bãi lầy rất nhẹ, nó có thể đạp cây gỗ, hoặc quỳ gối trên thân gỗ để tải trái giống từ bờ sông vào đến nơi trồng cực kỳ nhanh. Còn phụ nữ khi cấy thì tay chân lại nhẹ nhàng, nhanh nhẹn. Thành ra, năng suất đem lại tăng vọt gấp 3 lần so với đàn ông đi trồng rừng. Cứ thế, từ những bãi đất bùn trống trơn, rừng đước Cần Giờ đã dần dần khép tán, không phụ sự kỳ công và mong mỏi của mọi người. Một màu xanh bạt ngàn trải dài đã tiếp thêm hy vọng cho những người trồng rừng. Họ bắt đầu cảm thấy công việc mình làm thực sự có ý nghĩa và chấp nhận được cuộc sống cực kỳ gian khổ lúc đó… Sống giữa mênh mông nước, một bên là rừng, một bên là biển, nhưng gia đình ông Đặng Văn Được, ngụ xã Lý Nhơn, huyện Cần Giờ cũng như 125 hộ khác vẫn kiên quyết bám biển, giữ rừng gần 20 năm nay. Ông Đặng Văn Được nói về công việc của mình:
Toàn bộ các việc trồng, phục hồi, và xây dựng chương trình phát triển bền vững rừng ngập mặn Cần Giờ đều từ ngân sách của Tp. Nguồn kinh phí bảo vệ rừng phòng hộ Cần Giờ hiện nay cũng thuộc diện cao nhất cả nước với 725 ngàn đồng/hecta/năm và đang đề xuất sắp tới sẽ lên 870 ngàn đồng/hecta/năm. Trong 3 năm trở lại đây, Tp cũng đang từng bước thực hiện các biện pháp lâm sinh đối với từng khu ở rừng ngập mặn Cần Giờ và đã tạo được một cánh rừng phòng hộ khỏe mạnh, giàu sức sống… Kỹ sư Hoàng Song Hà, Trưởng phòng Kỹ thuật, Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ cho biết thêm:
Đêm Cần Giờ thật bình yên! Chúng tôi nằm nghe tiếng gió lùa trên rừng đước, tiếng sóng biển và hàng phi lao rì rầm vỗ sóng, tiếng cá quẫy móng, con thòi lòi lội rột rẹt trên bãi bùn... Trong những luồng gió từ màn đêm thăm thẳm thổi tới, lâu lâu chúng tôi lại ngửi thấy có mùi khói, mùi cá kho, mùi mằn mặn từ biển, mùi bùn lạnh và mùi rong rêu đóng trên vỏ cây xộc vào mũi. Nhắm mắt lại, chúng tôi đã thấy hiện lên những hàng đước, màu lá xanh thẫm trải dài tít tắp.



