Đài tiếng nói nhân dân TPHCM
The Voice of Ho Chi Minh City People
  • Có một người anh hùng chân đất

    (VOH) - Xuất thân là nông dân ở miệt vườn Lai Vung, Sa Đéc nhưng Đại tá – Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy đã lập nên những chiến công phi thường, hiển hách, nhiều lần bắn rơi máy bay Mỹ.

    Với thành tích này, tại Đại hội Anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu quốc năm 1966, ông Nguyễn Văn Bảy là một trong 3 phi công đầu tiên được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

    Từ chiến tranh thế giới thứ nhất, trong nội bộ không quân các nước đều có thống kê, tặng thưởng danh hiệu phi công ưu tú (hay còn gọi ACE) cho các phi công bắn rơi nhiều máy bay đối phương. Để được công nhận phi công ACE, ít nhất phải bắn hạ 5 máy bay đối phương trở lên. Trong hàng ngàn phi công đã được vinh danh là những phi công ACE xuất sắc nhất thế giới, có Đại tá – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Bảy, với thành tích bắn rơi 7 chiếc máy bay Mỹ mà không lần nào bị đối phương bắn hạ. Điều thú vị là, trước khi sải cánh tung bay trên bầu trời cùng chiếc MiG-17 của mình, ông là một người nông dân chính gốc xuất thân từ miệt vườn Lai Vung, Sa Đéc, với trình độ văn hóa chưa học hết lớp 3. Chân dung về ông sẽ được khắc họa rõ nét hơn qua bài “Có một người anh hùng chân đất” của Quỳnh Anh:

    Ở miệt vườn Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, người dân đã quen thuộc với hình ảnh một lão nông chân chất, giản dị, quanh năm gắn với ao cá, vườn cây. Lão nông ấy chính là ông Nguyễn Văn Bảy, hay còn gọi là Bảy A - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cựu Sĩ quan không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Thế nhưng, câu chuyện về những chiến công phi thường, hiển hách của ông Bảy không phải ai cũng biết.

    Đại tá – Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy

    Đại tá – Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy.

    Đại tá, phi công Nguyễn Văn Bảy sinh năm 1936 tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Khoảng năm 1953, do không chịu lấy vợ theo ý gia đình, ông trốn cha mẹ tham gia cách mạng, trở thành du kích. Năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc. Năm 1960, ông được chuyển binh chủng từ bộ binh sang không quân, theo học lớp lái máy bay phản lực ở Liên Xô. Trước đó, do học chưa hết lớp 3, ông phải học ở Trường bổ túc văn hóa Lạng Sơn và được phổ cập một lượt từ lớp 4 lên lớp 10. Ban đầu ông học lái máy bay Yak-52, sau đó chuyển dần lên MiG-15, MiG-17. Tháng 4/1965, lớp đào tạo hoàn thành tốt nghiệp trở về nước, đáp máy bay xuống sân bay Gia Lâm.

    Thế hệ phi công của ông phải đương đầu với không lực hùng mạnh nhất lúc bấy giờ. Ở Mỹ và các nước phương Tây, phi công phải bay trung bình từ 5.000 – 7.000 giờ mới được tham chiến. Nhưng với tình hình của ta lúc bấy giờ, phi công nào bay nhiều nhất cũng chỉ khoảng 300 giờ. Trận không chiến đầu tiên trên bầu trời Bắc Giang vào ngày 19/6/1965, chiếc MiG-17 do ông Bảy điều khiển bị bắn thủng cả phía sau và phía trước với 82 vết đạn. Thế mà ông vẫn bình tĩnh điều khiển máy bay trở về hạ cánh an toàn. Đây được xem là kỳ tích khi máy bay bị thương gần nát khúc đuôi mà phi công vẫn bình tĩnh và tự tin hạ cánh.

    Nhà văn Lê Thành Chơn – nguyên Sĩ quan dẫn đường, không quân nhân dân Việt Nam kể lại: "Anh Bảy bị bắn 82 lỗ vẫn điều khiển máy bay về lại an toàn. Đó là bản lĩnh, dũng cảm, kiên trì và mang một chút gì đó của một anh Hai Lúa, tôi cho như thế vì ảnh chẳng sợ chết!".

    Ngày ấy, không quân Việt Nam chỉ được trang bị 25 máy bay MiG-17, không ra-đa cũng như tên lửa, chỉ được trang bị 3 khẩu pháo cùng 200 viên đạn, nên ông Bảy chỉ quyết định nhấn nút bắn khi nhìn thấy buồng lái cùng số hiệu của máy bay đối phương. Trong khi đó, đối thủ cùng thời là F4 trang bị ra-đa điều khiển hỏa lực tầm xa, có 8 giá treo mang được tên lửa đối không, đạt tốc độ siêu âm. Chính vì vậy, quân đội Mỹ đã sửng sốt vô cùng khi những chiếc F4 tối tân lại bị bắn hạ bởi chiếc MiG-17 cũ kỹ, do những người phi công nông dân như Nguyễn Văn Bảy điều khiển.

    Đại tá Nguyễn Văn Bảy nhớ lại một trong những trận không chiến nảy lửa của mình: "Còn một mình tôi, phía sau đông quá. Tôi mới vừa ngắm chiếc này thì chiếc khác ở sau lưng, tôi phải quay lại đối phó. Đối phó với chiếc này thì chiếc khác lao vào, mà mỗi lần lao vào thì nó bắn tôi 2 quả tên lửa, tổng cộng hết khoảng chục quả tên lửa. Tôi quyết tâm chiến đấu đến cùng. Sau một thời gian thì chúng cũng phải giãn ra để quay về tiếp dầu, tiếp đạn, còn tôi thì một mình bay về sân bay Gia Lâm hạ cánh an toàn. Hôm đó địch có chừng 30 chiếc, còn mình có 4 chiếc máy bay. Đó là một trận không phải “tao ngộ chiến” mà là “giáp lá cà”, quần nhau như thế, tôi cũng muốn chết luôn!".

    Trung tướng Trần Hanh – nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nhận định: "Cách đánh của anh Bảy là cận chiến, quyết liệt, bắn trúng ngay từ loạt đạn đầu tiên và đã bắn là bắn rơi tại chỗ. Đó là cái quyết liệt, sáng tạo, mưu trí dũng cảm của anh hùng Bảy trong chiến đấu".

    Trong cuộc chiến với không quân Mỹ trên bầu trời miền Bắc Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy đã xuất kích tổng cộng 94 lần, nổ súng 13 lần và bắn rơi 7 máy bay Mỹ mà không bị đối phương bắn rơi một lần nào. Ông được công nhận là một trong 16 phi công “Át chủ bài” của không quân nhân dân Việt Nam. Tại Đại hội Anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu quốc năm 1966, với thành tích đặc biệt xuất sắc, Nguyễn Văn Bảy là một trong 3 phi công đầu tiên được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

    Đại tá Từ Đễ - một trong 5 phi công dùng máy bay địch ném bom sân bay Tân Sơn Nhất trong những ngày cuối cùng của chiến dịch Hồ Chí Minh, cho biết: "Hồi đó, bác Bảy là Thiếu tá – Trung đoàn trưởng thì tôi mới là Thiếu úy, chiến đấu viên. Phải nói về tôi như thế nào cho dễ so sánh với bác Bảy. Tôi được dạy dỗ 10 năm trong nhà trường, kiến thức văn hóa của tôi chắc chắn là hơn bác Bảy. Thứ hai là tôi trẻ hơn, trình độ bay của tôi giỏi hơn bác, tôi bay đêm, mọi thời tiết đều được. Thứ ba là tôi trẻ khỏe hơn. Thế nhưng kết quả chiến đấu, bác Bảy bắn rơi 7 chiếc, tôi không được chiếc nào. Để nói lên rằng tất cả kiến thức, sức khỏe, trình độ bay phải được chứng minh qua bắn rơi máy bay. Thế hệ phi công chúng tôi là trẻ nhất được bổ sung trong thời chống Mỹ đều công nhận bác là vô địch và những phi công Mỹ cũng công nhận như thế".

    Thế hệ hôm nay của không quân Việt Nam được làm chủ những máy bay hiện đại, hệ thống chỉ huy dẫn đường tiên tiến, nhưng thế hệ trẻ vẫn một lòng ngưỡng mộ trước người anh hùng có rất nhiều giờ bay chiến đấu trên không, với cách đánh sáng tạo và dũng cảm như Đại tá Nguyễn Văn Bảy.

    Năm 1990, khi đang là Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, ông Bảy nghỉ hưu. Gắn bó gần hết thời trai trẻ trên bầu trời, giờ đây, ông Bảy lại dầm mình dưới kênh ao quê nhà Đồng Tháp, sống đời nông dân. Nhưng đây mới là khoảng thời gian ông được sống hết mình với gia đình. Vợ ông – bà Trần Thị Liên – vốn là con cán bộ tập kết ra Bắc. Bà kể, năm 1966, hai người làm đám cưới gần sân bay Cát Bi – Hải Phòng. 30 phút sau đám cưới, ông Bảy phải trở về sân bay trực chiến. Ngày ấy cứ mỗi lần nghe có tin không chiến, bà lại đạp xe lọc cọc đi hỏi thăm tin tức về ông trong nỗi lo thắt ruột. Bây giờ cuối đời mới thực sự được sống bên nhau. Các con sống xa cha mẹ, nhưng căn nhà nhỏ của ông bà hiếm khi vắng vẻ vì bạn bè, đồng đội thường đến thăm nhau. Là người anh hùng mà không xa lạ trong cuộc sống đời thường, ông để lại dấu ấn trên cánh đồng, đường làng, trong tình cảm của bà con xóm ấp với phong cách của một lão nông Nam bộ thực thụ.

    Ông Nguyễn Văn Bảy hồn hậu nói: "Từ nhỏ tôi quen ruộng đồng rồi, nên khi về hưu tôi cũng phải bám ruộng đồng mà sống. Thứ hai nữa là sống ở ruộng đồng, không khí trong lành, lao động lại vui mà có ăn. Vê đây mỗi sáng tôi tập thể dục rồi đi tưới cây, trồng cây này chặt cây kia, vừa thoải mái tinh thần vừa rèn luyện sức khỏe. Mình sống cuộc đời thoải mái tinh thần là được rồi".

    Năm nay đã 83 tuổi, mắt đã mờ, chân đã chậm. Nhưng dù đã nhiều năm về với ruộng đồng, Đại tá – anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy vẫn thường xuyên theo dõi tạp chí, sách báo hàng không, đặc biệt là những tiến bộ của không quân thế giới. Nhiều lúc nằm một mình, ông lại nghĩ về Bác Hồ - người đã đưa những thanh niên nông dân như ông cất cánh bay trên bầu trời cao rộng, nhớ đến lời hứa sẽ lái máy bay đưa Bác vào thăm đồng bào miền Nam khi đất nước thống nhất. Lời hứa đó tuy không thành hiện thực, nhưng là động lực thôi thúc ông luôn nỗ lực, cố gắng.

    Quỳnh Anh