Khu công nghệ cao TPHCM hướng đến mục tiêu đi tắt đón đầu ngành công nghệ cao chiến lược
(VOH) - Khu công nghệ cao được hình thành và phát triển theo mô hình là một khu kinh tế kỹ thuật, thu hút đầu tư nước ngoài và huy động các nguồn lực khoa học công nghệ cao trong nước. Đây là nơi tập trung lực lượng sản xuất hiện đại, kết hợp sản xuất kinh doanh – nghiên cứu, tiếp thu, chuyển giao, phát triển công nghệ cao và đào tạo nguồn nhân lực cho nghiên cứu và sản xuất công nghệ cao. Trong đó, bốn lĩnh vực được tập trung thu hút đầu tư mạnh đó là: Công nghệ vi mạch bán dẫn, công nghệ thông tin và viễn thông, Công nghệ tự động hóa - cơ khí chính xác, Công nghệ sinh học áp dụng cho y tế, dược phẩm và môi trường, Công nghệ vật liệu mới, công nghệ nano và năng lượng…..
Sau hơn 5 năm hình thành và đi vào hoạt động, khu công nghệ cao đã khẳng định hướng đi đúng đắn, thu hút nhiều nhà đầu tư trong nước và quốc tế tham gia, đặc biệt là sự kiện thu hút được tập đoàn Intel (Hoa Kỳ) đầu tư vào khu công nghệ cao (tháng 2/2006) đã tạo cú hích cho công tác xúc tiến đầu tư và hợp tác trong nước cũng như quốc tế.
Đến nay, hơn 95% diện tích đất dành cho sản xuất công nghệ cao và 100% diện tích dành cho dịch vụ công nghệ cao đã được lắp đầy trong 300 ha thuộc giai đoạn I của khu công nghệ cao. Tính đến đầu tháng 9/2008, khu công nghệ cao đã cấp phép cho 4 dự án với tổng số vốn đầu tư gần 60 triệu đô la, nâng tổng số dự án được cấp phép đầu tư tại khu công nghệ cao là 34 dự án với tổng số vốn đầu tư cam kết trên 1.600 triệu đô la ( trong đó 17 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức 100% vốn FDI hoặc liên doanh). Dự kiến đến cuối năm 2008 , Khu công nghệ cao sẽ cấp phép cho 3 dự án mới bao gồm Nidec Copal (Nhật Bản, sản xuất động cơ rung chính xác trong Điện thoại di động, khuôn kim loại, ống lense cho máy chụp hình kỹ thuật số), Datalogic (Mỹ, Sản xuất và nghiên cứu thiết bị đọc dữ liệu mã vạch cầm tay và cố định), và EVN Telecom (Xây dựng Trung tâm chuyển mạch và dữ liệu) với tổng số vốn đầu tư cam kết là 139 triệu USD.
Như vậy, tính cả năm 2008, Khu công nghệ cao TP.HCM sẽ thu hút thêm hơn 215 triệu đôla Mỹ đầu tư mới và đầu tư mở rộng, đạt 100% kế hoạch đặt ra cho năm 2008. ông Lê Thế Hỷ - phó ban quản lý khu công nghệ cao cho biết:
Song song, với việc đẩy mạnh phát triển các nhóm ngành vi điện tử, cơ khí chính xác và tự động hóa…khu công nghệ cao còn thu hút các dự án nghiên cứu, phát triển ươm tạo, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao để cung ứng cho các tập đoàn đang đầu tư vào khu công nghệ cao. Có thể kể đến một số dự án đào tạo, nghiên cứu như: Trung tâm nghiên cứu và triển khai khu công nghệ cao thành phố HCM ( trung tâm R & D), với tổng vốn đầu tư trên 190 tỷ đồng gồm 3 cụm phòng thí nghiệm: thí nghiệm công nghệ vi mạch bán dẫn – nghiên cứu vật liệu nano; vườn ươm doanh nghiệp ….bước đầu đã ứng dụng thành công và đưa các sản phẩm khoa học công nghệ mới của thế giới vào trong nước, giải quyết phần lớn nguồn nhân lực có trình độ cho khu công nghệ cao. Ông Nguyễn Văn Nam – trung tâm ươm tạo doanh nghiệp SBI nhận xét:
Trong chiến lược phát triển công nghiệp thành phố là, xây dựng Khu công nghệ cao trở thành một trung tâm phát triển, nghiên cứu và chế tạo công nghệ cao hàng đầu tại Việt Nam, đủ khả năng thực hiện và hỗ trợ các lĩnh vực công nghệ cao - Thu hút các công ty đa quốc gia lớn nắm các công nghệ then chốt và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển và chuyển giao công nghệ cho các công ty trong nước - Tạo một môi trường an ninh, hỗ trợ và hợp tác giữa Khu CNC, Vườn ươm, các công ty công nghệ tăng trưởng cao và mới khởi sự. – xây dựng một mô hình phát triển hòa hợp giữa các tập đoàn đa quốc gia và các công ty trong nước.
Những kết quả trong thời gian qua đã khẳng định hướng đi đúng của khu công nghệ cao. Năm 2008, đánh dấu thêm cột mốc của ngành là việc đưa vào sử dụng cụm phòng thí nghiệm nghiên cứu và phát triển hoàn thiện mô hình đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao. Đây là điểm nhấn quyết định để tạo ra cơ hội hợp tác chuyển giao công nghệ, tạo ra nội lực nghiên cứu và nhân lực cho ngành công nghệ cao còn non trẻ ở VN để vừa tiết kiệm thời gian ”đi tắt-đón đầu” tiến tới mục tiêu cuối cùng - tạo công nghệ mang đặc thù Việt Nam.
Trung Nam
