Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 45/2026 quy định về quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Ảnh minh hoạ
Trong đó, các quy định liên quan đến quản lý dự án đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng vốn ngân sách nhà nước chi cho đầu tư công là nội dung đáng chú ý.
Theo Nghị định, dự án đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng vốn ngân sách nhà nước chi cho đầu tư công bao gồm ba nhóm chính.
Thứ nhất là dự án đầu tư hệ thống, bao gồm đầu tư hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu theo quy định tại khoản 5 Điều 3 của Nghị định.
Thứ hai là dự án mua sắm, gồm mua dự phòng, thay thế thiết bị phần cứng, phần mềm thương mại thuộc hệ thống thông tin hiện có; mua phần mềm thương mại; mua thiết bị phần cứng riêng lẻ hoặc các thiết bị, phần mềm, cơ sở dữ liệu không thuộc dự án đầu tư hệ thống.
Thứ ba là dự án thuê dịch vụ CNTT.
Nghị định nêu rõ, các dự án đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng vốn ngân sách nhà nước chi cho đầu tư công được thực hiện theo Luật Đầu tư công và các quy định tại Nghị định này.
Trình tự, thủ tục quyết định đầu tư đối với dự án CNTT khẩn cấp thực hiện theo Điều 45 Luật Đầu tư công và các văn bản hướng dẫn liên quan; đối với dự án CNTT đặc biệt, trình tự, thủ tục được thực hiện theo khoản 21 Điều 7 Luật số 90/2025 và các quy định chi tiết có liên quan.
Việc phân loại dự án, xác định chủ đầu tư, các trường hợp điều chỉnh dự án được thực hiện theo Luật Đầu tư công và các văn bản sửa đổi, bổ sung.
Tiến sỹ Sinh học Nguyễn Hữu Tiền tại phòng làm việc của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật-Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Ảnh: Minh Đức/TTXVN
Đối với dự án đầu tư ứng dụng CNTT có hạng mục thuộc lĩnh vực viễn thông, xây dựng công trình hoặc lĩnh vực chuyên ngành khác, việc quản lý chi phí và chất lượng của các hạng mục này thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành tương ứng.
Trường hợp dự án trong lĩnh vực khác có hạng mục ứng dụng CNTT thì việc quản lý chi phí, chất lượng đối với hạng mục CNTT được thực hiện theo quy định của Nghị định 45/2026.
Nghị định cũng quy định, trường hợp một dự án gồm nhiều dự án thành phần hoặc tiểu dự án, nếu từng dự án thành phần hoặc tiểu dự án có thể độc lập vận hành, khai thác hoặc thực hiện theo phân kỳ đầu tư đã được phê duyệt trong chủ trương đầu tư, thì mỗi dự án thành phần hoặc tiểu dự án được triển khai ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư (trừ bước lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư) như một dự án đầu tư ứng dụng CNTT độc lập.
Trình tự, thủ tục lập, thẩm định và quyết định đầu tư được áp dụng theo nhóm dự án tương ứng.
Doanh nghiệp khởi nghiệp ngành vi mạch bán dẫn và AI được hỗ trợ không gian làm việc tại Khu Công nghệ thông tin tập trung, Công viên phần mềm Đà Nẵng số 2 - Ảnh: Mỹ Hà/TTXVN
Việc bố trí vốn thực hiện dự án tuân thủ Luật Đầu tư công và các quy định hướng dẫn. Công tác lựa chọn nhà thầu, thương thảo, ký kết và thực hiện hợp đồng được thực hiện theo Luật Đấu thầu và các văn bản liên quan.
Đối với gói thầu lập thiết kế chi tiết và triển khai phần mềm nội bộ, việc lựa chọn nhà thầu được thực hiện theo gói thầu thiết kế và cung cấp hàng hóa (EP); mẫu hồ sơ mời thầu áp dụng theo mẫu hồ sơ mời thầu mua sắm hàng hóa của pháp luật về đấu thầu.
Nghị định quy định việc thanh toán, quyết toán dự án đầu tư ứng dụng CNTT thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành.
Chủ đầu tư chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, hợp pháp của đơn giá, khối lượng và giá trị đề nghị thanh toán.
Việc xử lý tài sản hình thành từ dự án và tài sản phục vụ hoạt động của dự án được thực hiện theo pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật chuyên ngành có liên quan.
Về trình tự đầu tư, dự án đầu tư ứng dụng CNTT được thực hiện qua ba giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư.
Các hoạt động trong giai đoạn thực hiện và kết thúc đầu tư có thể được triển khai tuần tự hoặc xen kẽ, tùy theo điều kiện cụ thể của từng dự án và do cấp có thẩm quyền quyết định.
Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, các hoạt động chính gồm lập, thẩm định và quyết định chủ trương đầu tư; lập, thẩm định và quyết định đầu tư dự án. Giai đoạn thực hiện đầu tư được tổ chức khác nhau tùy theo loại dự án.
Đối với dự án đầu tư hệ thống, bao gồm các hoạt động từ lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế chi tiết; lựa chọn nhà thầu; triển khai, giám sát, kiểm thử, vận hành thử, đào tạo, nghiệm thu, bàn giao và lập hồ sơ hoàn thành.
Đối với dự án mua sắm và dự án thuê dịch vụ CNTT, trình tự được thực hiện phù hợp với tính chất từng loại dự án theo quy định của Nghị định.
Trong giai đoạn kết thúc đầu tư, các hoạt động chính bao gồm bảo hành sản phẩm (đối với dự án đầu tư hệ thống và dự án mua sắm), thực hiện quyết toán vốn đầu tư và phê duyệt quyết toán dự án.
Về thiết kế dự án, Nghị định quy định thiết kế áp dụng đối với dự án đầu tư hệ thống và được thực hiện theo thiết kế một bước hoặc hai bước.
Thiết kế một bước gồm thiết kế chi tiết, áp dụng đối với dự án có tổng mức đầu tư không quá 20 tỷ đồng hoặc các dự án khác khi chủ đầu tư báo cáo và được cấp có thẩm quyền cho phép.
Thiết kế hai bước gồm thiết kế cơ sở và thiết kế chi tiết, áp dụng đối với các dự án còn lại.
Trường hợp thiết kế hai bước, thiết kế chi tiết phải phù hợp với thiết kế cơ sở đã được phê duyệt về mô hình tổng thể, mô hình logic và mô hình vật lý của hệ thống.
Đối với dự án đầu tư xây dựng, phát triển, nâng cấp, mở rộng phần mềm nội bộ, sau khi dự án được quyết định đầu tư, chủ đầu tư có thể tự thực hiện hoặc thuê nhà thầu khảo sát bổ sung, lập thiết kế chi tiết và triển khai dự án.
Tổ chức, cá nhân thiết kế chi tiết có trách nhiệm giám sát tác giả trong suốt quá trình triển khai và nghiệm thu khi chủ đầu tư yêu cầu.




