Việc đưa trí tuệ nhân tạo (AI) vào trường học không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào, mà đang đòi hỏi một tư duy quản trị dựa trên khoa học dữ liệu khắt khe, có hành lang pháp lý an toàn và lấy học sinh làm trung tâm.
Sở Giáo dục và Đào tạo TPHCM nhận định, với quy mô hơn 2,6 triệu học sinh toàn thành phố, việc cá nhân hóa lộ trình học tập cho từng em là bài toán lớn mà các hệ thống quản lý học tập (LMS) truyền thống không thể giải quyết triệt để. Do đó, trí tuệ nhân tạo (AI) được xác định là chìa khóa then chốt.
Trong thời gian tới, Thành phố đặt công tác đào tạo và được bồi dưỡng giáo viên lên hàng đầu. Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo TPHCM Nguyễn Bảo Quốc cho rằng, mua một phần mềm AI thì đơn giản, nhưng thay đổi thói quen của giáo viên mới là yếu tố cốt lõi. Sở đang phối hợp với nhiều đối tác quốc tế để xây dựng kế hoạch tổ chức các lớp chuyên đề về AI cho các thầy cô, để có thể làm chủ AI và hướng đến thầy cô giáo biến AI thành một trợ lý phù hợp.
Bên cạnh đó là thay đổi cách thu thập dữ liệu, đánh giá một quá trình thay vì chỉ nhìn vào điểm số. Sắp tới, hệ thống học tập thành phố sẽ thu thập dữ liệu của mỗi học sinh, ghi nhận các hành vi kỹ thuật số hàng ngày (như thời gian nán lại bài giảng, sự ngập ngừng, câu hỏi hay làm sai...) để dự đoán và bù đắp lỗ hổng kiến thức, đồng thời, cam kết dữ liệu được mã hóa và bảo mật tuyệt đối.
Đáng chú ý, ngành giáo dục thành phố khẳng định kiên định triết lý “người thầy luôn nắm quyền quyết định cao nhất”. AI chỉ đóng vai trò trợ lý chuyên môn, gợi mở tư duy. Mọi đề xuất từ công nghệ đều phải thông qua phê duyệt của giáo viên trước khi áp dụng cho học sinh.
Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo TPHCM Nguyễn Bảo Quốc nhấn mạnh: “AI sinh ra để phục vụ cho giáo viên chứ không bao giờ thay thế được người thầy. Trong hệ thống học tập của thành phố, mọi gợi ý của AI đều mang tính tham khảo và phải qua sự phê duyệt của thầy cô. Ví dụ như trong hệ thống, AI báo cáo học sinh đang sa sút trong học tập, nhưng chỉ giáo viên mới biết chính xác nhất những chuyện gì đã xảy ra với em học sinh ấy, và lúc này thì thầy cô mới có thể bác bỏ hoàn toàn kết luận của AI và có những điều chỉnh, hướng dẫn cho các em học sinh một cách phù hợp.”
Ở góc độ nghiên cứu, PGS.TS Ngô Minh Vũ (Đại học Kinh tế TPHCM) cảnh báo nguy cơ tốn kém và mất bình đẳng nếu mỗi địa phương, mỗi trường tự phát triển công cụ AI riêng lẻ. Ông đề xuất Bộ Giáo dục và Đào tạo cần chủ trì xây dựng một nền tảng giáo dục thông minh dùng chung cho toàn bộ khối THPT toàn quốc.
Theo PGS.TS Ngô Minh Vũ, lợi thế lớn nhất của giáo dục THPT là học liệu và chương trình đã được chuẩn hóa. Nền tảng dùng chung nên vận hành theo kiến trúc truy xuất tăng cường (RAG) có kiểm soát, bắt buộc AI đưa ra phản hồi đi kèm nguồn trích dẫn học liệu chính thống để loại bỏ các thông tin sai lệch. Mô hình này phân vai rõ ràng: Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý chuẩn dữ liệu và chính sách; các tập đoàn hạ tầng công nghệ đảm bảo năng lực tính toán; viện - trường đại học thiết kế quy trình và đánh giá độc lập; còn các doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia phát triển các ứng dụng mở rộng.
Chuyên gia này cũng vạch rõ “ranh giới” trong ứng dụng AI: “Chúng ta không nhận diện khuôn mặt hay giám sát cảm xúc trong lớp học của học sinh như một công cụ quản lý. Không tự động “gán nhãn” học sinh cũng như không thương mại hóa dữ liệu của học sinh, vì các em là những đối tượng vị thành niên, cần được bảo vệ.”
Từ góc độ đơn vị triển khai trực tiếp, bà Nguyễn Dương Minh Hương, Hiệu trưởng Trường THCS Hoa Lư cho biết việc trang bị năng lực số cho học sinh không đồng nghĩa với việc gia tăng môn học hay tạo thêm áp lực tiết học. Nhà trường quán triệt mô hình: lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên làm động lực và công nghệ làm công cụ hỗ trợ.
Thực tế năm học 2025-2026 tại trường ghi nhận những chuyển biến tích cực ở cả chất lượng đại trà lẫn mũi nhọn. Học sinh không chỉ khai thác AI để hỗ trợ học tập mà còn được trang bị nhận thức về đạo đức số, an toàn thông tin và tư duy phản biện để tránh phụ thuộc vào công nghệ. Đội ngũ giáo viên cũng từng bước nâng cao năng lực thiết kế học liệu và kiểm tra đánh giá.
Tuy nhiên, đại diện nhà trường cũng thẳng thắn chỉ ra những rào cản thực tế, như khoảng cách năng lực công nghệ giữa các thế hệ giáo viên, vướng mắc trong cơ chế cấp ngân sách cho hạ tầng thiết bị số, và sự thiếu vắng một bộ công cụ chuẩn hóa để đo lường năng lực số của học sinh.
Do đó, bà Nguyễn Dương Minh Hương, Hiệu trưởng Trường THCS Hoa Lư đề xuất: “Chúng tôi cho rằng, Bộ cần hỗ trợ tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng giáo viên chú trọng vào thực hành. Ưu tiên tháo gỡ thủ tục phân bổ ngân sách cho hạ tầng công nghệ; ban hành hành lang pháp lý và hướng dẫn đơn giản hóa thủ tục xã hội hóa, vận động tài trợ đúng quy định. Hướng dẫn cụ thể việc lồng ghép, tích hợp nội dung phát triển năng lực số theo đặc thù từng môn học. Đồng thời, ban hành bộ công cụ chuẩn hóa và đồng bộ để đo lường, đánh giá năng lực số của học sinh.”
Để các giải pháp công nghệ sớm đi vào đời sống học đường một cách an toàn và thực chất, đại diện các cơ sở giáo dục và chuyên gia thống nhất đề xuất Bộ Giáo dục và Đào tạo sớm ban hành khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox).
Lộ trình được khuyến nghị là đi từ khảo sát nhu cầu, xây dựng chuẩn dữ liệu, thí điểm quy mô hẹp tại 5 - 10 trường trong 6 - 12 tháng, tổ chức đánh giá tác động độc lập trước khi nhân rộng. Việc tháo gỡ các thủ tục phân bổ ngân sách, ban hành hướng dẫn lồng ghép năng lực số vào từng môn học và tạo hành lang pháp lý cho xã hội hóa hạ tầng, được xem là những đòn bẩy cấp thiết hiện nay nhằm hiện thực hóa mục tiêu “không để học sinh nào bị bỏ lại phía sau” trong kỷ nguyên số.



