Thông tư quy định rõ điều kiện chung và điều kiện cụ thể để công nhận văn bằng theo từng phương thức đào tạo, gồm: học trực tiếp tại nước ngoài; liên kết đào tạo tại nước ngoài; liên kết đào tạo tại Việt Nam; học từ xa, bao gồm trực tuyến, trực tuyến kết hợp trực tiếp hoặc kết hợp các hình thức đào tạo từ xa khác.
Thông tư quy định thủ tục công nhận văn bằng được xử lý hoàn toàn trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Người đề nghị chỉ phải nhập dữ liệu một lần và có thể tải hồ sơ trực tuyến; những thông tin đã có trong các cơ sở dữ liệu quốc gia thì không phải nộp lại bản giấy hoặc bản chứng thực điện tử.
Đối với trường hợp cần xác minh thông tin từ cơ sở giáo dục nước ngoài hoặc cần làm rõ thông tin liên quan đến văn bằng, thời hạn giải quyết tối đa được rút từ 45 ngày làm việc xuống còn 30 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, giảm 15 ngày làm việc so với quy định trước đây. Việc rút ngắn thời gian xử lý góp phần giảm thời gian chờ đợi cho người dân và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công.
Thông tư đồng thời quy định việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thủ tục công nhận văn bằng không phụ thuộc vào địa giới hành chính, phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trong môi trường số.
Hồ sơ tiếp tục được đơn giản hóa đối với văn bằng, bảng điểm điện tử hoặc trường hợp có thông tin xác thực trực tiếp từ cơ sở cấp bằng. Trường hợp văn bằng bằng tiếng Anh thì không cần dịch sang tiếng Việt mà chỉ cần tải lên Cổng Dịch vụ công quốc gia bản quét các thành phần hồ sơ theo quy định.
Việc số hóa được thực hiện không chỉ với hồ sơ mà cả kết quả công nhận và phương thức xác minh. Kết quả công nhận được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về công nhận văn bằng. Thông tin tra cứu từ cơ sở dữ liệu hoặc hiển thị trên VNeID có giá trị xác minh thay cho việc cơ quan có thẩm quyền công nhận văn bằng xác minh bằng văn bản. Cơ sở dữ liệu về công nhận văn bằng được kết nối với VNeID theo lộ trình.
Thông tư cũng phân biệt các trường hợp học trực tiếp ở nước ngoài, học qua chương trình liên kết, học tại phân hiệu ở Việt Nam hoặc học chương trình được tổ chức tại một nước khác với nơi trường cấp bằng đặt trụ sở.
Với các chương trình đào tạo tại Việt Nam, cơ sở giáo dục nước ngoài phải hoạt động hợp pháp và đáp ứng các quy định của Việt Nam về chương trình, tuyển sinh, thời lượng đào tạo và các điều kiện liên quan.
Trường hợp chương trình được tổ chức ở một nước khác với nơi trường cấp bằng đặt trụ sở, việc công nhận văn bằng còn được xem xét dựa trên việc cơ sở đào tạo có được phép hoạt động, cấp bằng hoặc được kiểm định tại nơi chương trình được triển khai hay không.
Với bằng tiến sĩ học trực tiếp tại một trường nước ngoài nhưng có thời gian nghiên cứu thực địa ở nước khác, người học phải có ít nhất 12 tháng học tập, nghiên cứu trực tiếp tại trường cấp bằng trong suốt khóa học thì bằng mới được xem xét công nhận tại Việt Nam.
Trường hợp bằng tiến sĩ được cấp dựa trên việc công nhận các kết quả nghiên cứu, công trình khoa học đã có, người học vẫn phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu của chương trình. Trong đó phải có người hướng dẫn khoa học và bảo vệ luận án trước hội đồng học thuật.
Kết quả học tập, nghiên cứu cũng phải đáp ứng chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tiến sĩ tương ứng tại Việt Nam.

