Làm thế nào để xây dựng một mô hình thư viện số tối ưu, vừa bảo đảm tính tự chủ của từng thiết chế, vừa tối đa hóa khả năng dùng chung nguồn lực, hạ tầng và dữ liệu? Đó là nội dung được nhiều chuyên gia thảo luận tại hội thảo “Thư viện số dùng chung - Từ mô hình đến giải pháp triển khai”, diễn ra vào sáng 8/10.
Không gian văn hóa, phương thức giao tiếp và thói quen tiếp nhận tri thức của con người đang biến đổi sâu sắc từng ngày trong xu thế chuyển đổi số mạnh mẽ và toàn diện của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Hoạt động đọc - một hành vi văn hóa cốt lõi của nhân loại - nay không còn bị giới hạn bởi những trang giấy truyền thống hay không gian chật hẹp của các tủ sách kiểu cũ mà đã mở rộng mạnh mẽ trên các thiết bị thông minh và không gian lưu trữ trực tuyến/không gian mạng.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thời gian qua cũng chỉ ra một số rào cản và thách thức lớn. Đó là sự manh mún và lãng phí nguồn lực, nhiều thư viện triển khai chuyển đổi số theo kiểu "ốc đảo", hạ tầng kỹ thuật và cơ sở dữ liệu còn khép kín, thiếu sự kết nối và chia sẻ rộng rãi ngay trong từng hệ thống. Đặc biệt đối với các thư viện cấp phường/xã, các trường phổ thông hay cơ sở giáo dục vừa và nhỏ, việc tự đầu tư một hệ thống thư viện số hoàn chỉnh, hiện đại là thách thức vượt quá khả năng tài chính và nhân lực. Bên cạnh đó, còn là bài toán bản quyền và nội dung số. Mối quan hệ giữa xuất bản và thư viện trong không gian số vẫn chưa tìm được sự cân bằng tối ưu giữa bảo vệ bản quyền tác giả và cung cấp khả năng tiếp cận tri thức rộng rãi cho cộng đồng người sử dụng.
Trước những yêu cầu thực tiễn này, PGS.TS. Nguyễn Thế Dũng, Trường Đại học Văn Hóa TPHCM gợi ý giải pháp phát triển thư viện số dùng chung. Thư viện số dùng chung là mạng lưới liên thông, chia sẻ hạ tầng và tài nguyên thông tin giữa các thư viện dựa trên các tiêu chuẩn thống nhất. Mô hình này giúp các thư viện khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, tối ưu hóa nguồn lực và mở rộng khả năng tiếp cận thông tin và tri thức cho xã hội.
“Chúng ta cần hoàn thiện cơ chế, chính sách và mô hình quản trị. Xây dựng hạ tầng công nghệ và tiêu chuẩn liên thông thống nhất. Phát triển và chia sẻ tài nguyên thông tin số. Đổi mới phương thức hoạt động, lấy người sử dụng làm trung tâm. Đồng thời phải phát triển nguồn nhân lực và tăng cường hợp tác”, PGS.TS. Nguyễn Thế Dũng nêu rõ.
Từ góc nhìn của người làm công tác quản lý thư viện đại học nhiều năm, ThS. Nguyễn Hải Gian, Giám đốc Trung tâm Thông tin, Thư viện - Trường Đại học Văn hóa TPHCM cho rằng, thư viện số mang lại rất nhiều lợi ích cho cả người học và người dạy.
Thực tế cho thấy, người học hiện nay không chỉ tiếp nhận kiến thức trong giảng đường. Một phần đáng kể quá trình học tập diễn ra thông qua các nền tảng số, cơ sở dữ liệu trực tuyến, sách điện tử, tạp chí khoa học điện tử, kho học liệu mở và nhiều nguồn thông tin khác. Giảng viên cũng ngày càng sử dụng các tài nguyên số để chuẩn bị bài giảng, thiết kế hoạt động học tập và hướng dẫn sinh viên nghiên cứu. Hoạt động nghiên cứu khoa học phụ thuộc ngày càng nhiều vào khả năng tiếp cận và xử lý nguồn thông tin học thuật số. Trong bối cảnh đó, thư viện số cần được nhìn nhận không đơn thuần là một “kho tài liệu điện tử”. Thư viện số phải trở thành hạ tầng tri thức, hỗ trợ người học, giảng viên và nhà nghiên cứu tiếp cận, đánh giá, khai thác và tạo lập tri thức.
Tuy nhiên, ThS. Nguyễn Hải Gian cũng lưu ý: “Con đường đi đến thư viện số sẽ không bằng phẳng. Nếu chúng ta đầu tư hạ tầng, công nghệ mà không có dữ liệu thì chỉ là một “kho chứa” mà thôi. Thứ hai, số hóa không đồng nghĩa chuyển đổi số. Số hóa tài liệu chỉ là một khâu trong quá trình xây dựng thư viện số. Sau số hóa còn phải tổ chức dữ liệu, xây dựng metadata, lưu trữ, bảo quản, xác lập quyền truy cập và phát triển dịch vụ khai thác. Một vấn đề nữa là khoảng cách về năng lực thủ thư. Thư viện không thể tự mình xây dựng một nguồn học liệu đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu nếu thiếu sự phối hợp của giảng viên và các đơn vị đào tạo.”
Một vấn đề cần đặt ra nữa đối với thư viện số, đó là tài liệu số, quyền sao chép, lưu trữ, cung cấp và chia sẻ cần được xác định rõ. Việc số hóa tài liệu truyền thống phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến quyền tác giả và sở hữu trí tuệ. Ths.Ngô Nguyễn Cảnh, Thư viện Trường Đại học Luật TPHCM, đề xuất hướng tháo gỡ: “Thay thế tiêu chí “phi thương mại” bằng “không nhằm mục đích thưởng thức” như mô hình tại Nhật Bản, để không kìm hãm các ứng dụng AI y khoa, giáo dục. Phân định ranh giới dựa trên mục đích sử dụng chính là phục vụ giáo dục, nghiên cứu phi lợi nhuận và quy mô phân phối hạn chế, không cạnh tranh trực tiếp với thị trường thương mại.”
Các chuyên gia cho rằng phát triển thư viện số dùng chung không chỉ là giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin mà còn là yêu cầu đổi mới căn bản phương thức tổ chức, quản lý và phát triển các loại hình thư viện. Trong bối cảnh chuyển đổi số, mô hình này góp phần khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, tài nguyên số bị chia cắt và khả năng khai thác giữa các thư viện còn hạn chế; đồng thời tạo điều kiện sử dụng hiệu quả hơn hạ tầng, dữ liệu và các nguồn lực thư viện.
Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần chuyển từ cách thức hoạt động tương đối độc lập sang cơ chế hợp tác, liên thông và chia sẻ, với sự đồng bộ về chính sách, hạ tầng công nghệ, tiêu chuẩn dữ liệu, nguồn lực, nhân lực, quản trị và an toàn thông tin. Đây là cơ sở để mở rộng khả năng tiếp cận tri thức và góp phần xây dựng thư viện Việt Nam hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn nhu cầu học tập, nghiên cứu và học tập suốt đời của xã hội.
Cũng tại hội thảo, đã diễn ra Lễ ký kết biên bản ghi nhớ (MOU) giữa Trường Đại học Văn hóa TPHCM và Công ty cổ phần Thư viện số Việt Nam (ViLIB); đồng thời chính thức ra mắt Nền tảng ViLIB và Thư viện số Trung tâm Thông tin, Thư viện Trường Đại học Văn hóa TPHCM.

























