Đây là một câu hỏi rất đáng suy nghĩ, bởi nguồn lực và kết quả không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với nhau.

Một địa phương có thể có vị trí thuận lợi, quỹ đất, hạ tầng và khả năng thu hút đầu tư. Nhưng nếu thủ tục kéo dài, hạ tầng kết nối chưa đồng bộ, nguồn điện không ổn định hoặc thiếu lao động có kỹ năng, lợi thế ban đầu vẫn chưa chắc chuyển thành năng lực sản xuất.
Một doanh nghiệp có thể được tiếp cận nguồn vốn, nhưng nếu thiếu thị trường, thiếu phương án kinh doanh khả thi hoặc năng lực quản trị yếu, thì vốn - chưa chắc tạo ra tăng trưởng. Một doanh nghiệp có sản phẩm tốt và thị trường tiềm năng nhưng không thể huy động vốn đúng lúc cũng có thể bỏ lỡ cơ hội. Vì vậy, bài toán phát triển không chỉ là huy động thêm nguồn lực. Đó còn là tổ chức các nguồn lực thành một hệ thống có khả năng tạo ra giá trị.
Trong phát biểu bế mạc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu chú trọng tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, nâng cao năng lực hấp thụ vốn, bảo đảm hạ tầng, năng lượng và nhân lực; khơi thông đầu tư tư nhân, củng cố sức mua, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Đồng thời, đầu tư nước ngoài cần gắn với chuyển giao công nghệ, liên kết doanh nghiệp và gia tăng giá trị tạo ra trong nước.
Chỉ đạo này hơi nên những định hướng quan trọng cần làm. Đó là, tháo gỡ điểm nghẽn phải đi cùng với việc nâng cao năng lực thực thi. Vì thực tế, sửa một quy định chưa đủ nếu cách phối hợp giữa các cơ quan vẫn chậm. Phân cấp thẩm quyền chưa đủ nếu cấp được giao quyền không có nhân lực, dữ liệu và nguồn lực để thực hiện. Rút ngắn thủ tục chưa đủ nếu người dân và doanh nghiệp vẫn không biết hồ sơ đang ở đâu, ai giải quyết và khi nào có kết quả.
Do đó, cải cách cần được đánh giá bằng thời gian thực tế để giải quyết công việc, chi phí tuân thủ, mức độ minh bạch và khả năng dự đoán của môi trường kinh doanh. Nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước phải là một ưu tiên thực chất. Doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cần thêm vốn. Họ còn cần nhân lực có kỹ năng, năng lực quản trị, khả năng ứng dụng công nghệ, tiêu chuẩn sản xuất và cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Nếu một doanh nghiệp trong nước chỉ cung cấp những dịch vụ có giá trị gia tăng thấp, không thể tiếp cận công nghệ và không có cơ hội trở thành nhà cung ứng cho các dự án lớn, thì lợi ích lan tỏa từ đầu tư sẽ bị hạn chế. Vấn đề không phải là lựa chọn giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Điều quan trọng là tạo ra khả năng kết nối để các nguồn vốn, công nghệ, thị trường và doanh nghiệp bổ trợ cho nhau.
Một định hướng nữa là, phải nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Đầu tư công có thể tạo ra hạ tầng kết nối, mở rộng năng lực sản xuất và thu hút đầu tư xã hội. Nhưng hiệu quả không nên chỉ được đánh giá bằng số tiền đã giải ngân. Cần xem công trình có hoàn thành đúng chất lượng không, có được sử dụng hiệu quả không, có giảm chi phí vận tải, cải thiện kết nối hoặc tạo thêm cơ hội phát triển không.
Đối với công nghệ và chuyển đổi số, cũng cần tránh chạy theo hình thức. Mua sắm phần mềm hay trang thiết bị mới không tự động đồng nghĩa với năng suất tăng. Giá trị chỉ xuất hiện khi công nghệ giúp quy trình tốt hơn, dữ liệu được sử dụng hiệu quả hơn và con người giải quyết công việc nhanh, chính xác hơn.
Có thể nói rằng, đây là lúc cần chuyển từ tư duy có nguồn lực sang tư duy tạo ra năng lực từ nguồn lực. Như vậy cần khẳng định, Vốn, đất đai, hạ tầng, công nghệ và con người chỉ thực sự trở thành sức mạnh khi được kết nối đúng cách và sử dụng hiệu quả.
Bởi vậy, câu hỏi quan trọng không chỉ là chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là: Vì sao những nguồn lực đang có, chưa tạo ra kết quả tương xứng…và ai sẽ chịu trách nhiệm tháo gỡ những điểm nghẽn đó?



























