Trong nền kinh tế số, dữ liệu đang được ví như “tiền mới” – thứ tài sản vô hình nhưng có thể tạo ra giá trị hàng tỷ đô la. Câu hỏi đặt ra là: ai thực sự được hưởng lợi từ dữ liệu do chính mình tạo ra? Người dùng, doanh nghiệp hay các nền tảng số?
Tiến sĩ Trần Quý – Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế số Việt Nam chia sẻ với VOH Online - Đài Phát thanh và Truyền hình TPHCM HTV.
Nội dung phỏng vấn:
*Người tạo ra dữ liệu chính là khách hàng thì người đó thì có thực sự là được hưởng cái lợi tương xứng so với những gì mà mình đã làm ra hay không?
Tiến sĩ Trần Quý: Chúng ta cần phá vỡ một ảo tưởng về miễn phí. Trước đây khi chúng ta sử dụng một cái nền tảng số, chúng ta thấy họ không có thu tiền mình. Tuy nhiên, cái đó không phải là miễn phí. Trên không gian số thì nếu bạn không phải trả tiền cho một sản phẩm thì chính bạn chính là sản phẩm. Đây chính là cái cốt lõi của cái mô hình người ta gọi là chủ nghĩa tư bản giám sát. Cái thứ hai nữa là gì? Nó là cái cán cân bất đối xứng. Người dùng nhận được cái sự tiện lợi ngắn hạn, cái nền tảng họ sẽ lấy được cái dữ liệu, hành vi để tạo ra những cái sản phẩm dự đoán.
*Vì sao dữ liệu được xem là tiền mới trong một nền kinh tế số?
Tiến sĩ Trần Quý: Một trong những đặc tính quan trọng của tiền là khả năng thanh khoản, và dữ liệu cũng sở hữu đặc tính này khi có thể trao đổi và tạo ra giá trị. Doanh nghiệp ngày nay không nhất thiết phải thế chấp nhà đất, mà có thể dựa vào dữ liệu khách hàng để được định giá lên đến hàng tỷ đô la. Những doanh nghiệp hiểu rõ giá trị của dữ liệu cũng chính là những doanh nghiệp biết cách biến dữ liệu thành lợi nhuận.
Bên cạnh đó, dữ liệu còn có khả năng sinh lời thông qua quá trình thường được gọi là “tín dụng hóa dự báo”. Nếu như tiền trong nền kinh tế truyền thống chủ yếu phục vụ các giao dịch trong quá khứ, thì trong nền kinh tế số, “tiền mới” – tức dữ liệu – được sử dụng để mua và dự đoán tương lai. Ai nắm giữ dữ liệu sẽ có khả năng dự báo xu hướng thị trường, từ đó sở hữu lợi thế cạnh tranh vượt trội.
*Dạ vâng, có thể thấy dữ liệu là đem lại cho doanh nghiệp rất là nhiều lợi thế và doanh nghiệp cũng sẽ tránh được những cái rủi ro đáng tiếc. Vậy thì nếu như mà doanh nghiệp không làm chủ được dữ liệu thì doanh nghiệp sẽ gặp những rủi ro gì?
Tiến sĩ Trần Quý:
Trước đây, do thói quen của nền kinh tế Việt Nam chưa chú trọng tạo lập và khai thác dữ liệu có giá trị, nhiều doanh nghiệp đã rơi vào tình trạng “xây nhà trên đất người khác”. Không ít doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, phụ thuộc hoàn toàn vào các nền tảng trung gian như Facebook hay TikTok. Trong khi đó, các nền tảng này thường xuyên thay đổi thuật toán hoặc khóa tài khoản, khiến doanh nghiệp có thể mất toàn bộ khách hàng nếu không chủ động sở hữu dữ liệu của riêng mình.
Bên cạnh đó, việc kinh doanh thông qua các sàn trung gian mà không lưu trữ dữ liệu riêng khiến doanh nghiệp mất khả năng thấu hiểu khách hàng, không biết rõ khách hàng là ai và không thể xây dựng mối quan hệ lâu dài. Ngược lại, những doanh nghiệp chủ động xây dựng ứng dụng riêng, trực tiếp sở hữu dữ liệu sẽ có lợi thế trong việc chăm sóc và duy trì tệp khách hàng trung thành mà không phải phụ thuộc vào các nền tảng bên ngoài.
Ngoài ra, việc không làm chủ dữ liệu còn tiềm ẩn rủi ro về an ninh và pháp lý, chưa kể những tổn thất về uy tín – yếu tố được xem là thiệt hại lớn nhất nhưng khó có thể đo đếm bằng con số.
*Cái ranh giới giữa khai thác dữ liệu để phát triển cũng như là cái xâm phạm quyền riêng tư của dữ liệu là gì?
Tiến sĩ Trần Quý:
Việc thu thập dữ liệu nằm trên ranh giới giữa sự đồng thuận và minh bạch, với mục tiêu phục vụ đúng và đủ những nhu cầu mà khách hàng đã chấp thuận. Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam hiện nay đang xuất hiện những vấn đề đáng báo động. Trước hết là tình trạng chợ đen dữ liệu, tiếp đến là nguy cơ thao túng tâm lý người dùng. Không chỉ dừng lại ở việc làm lộ số điện thoại hay thông tin cá nhân, nguy hiểm hơn là việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phân tích trạng thái tâm lý. Khi nắm bắt được người dùng đang lo âu, buồn chán hay bất ổn, các quảng cáo hoặc hành vi lừa đảo có thể tấn công trực diện vào điểm yếu tâm lý đó.
Để vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa bảo vệ quyền lợi của người dân, cần có sự tham gia đồng bộ từ nhiều phía. Trước hết là vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý. Những năm gần đây, khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân đã từng bước được hoàn thiện, trong đó có Nghị định 13/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Quy định chế tài xử phạt lên đến 5% doanh thu đối với hành vi mua bán dữ liệu trái phép được xem là biện pháp răn đe quan trọng, góp phần hạn chế tình trạng vi phạm.
Về phía doanh nghiệp, cần chuyển đổi mô hình theo hai hướng cốt lõi. Thứ nhất, thay đổi tư duy từ “khai thác ngắn hạn” sang “nuôi trồng dữ liệu”, chủ động xây dựng và làm chủ dữ liệu của mình với vai trò là bên thứ nhất, đồng thời bảo đảm tuân thủ các quy định pháp lý. Thứ hai, doanh nghiệp cần lựa chọn các giải pháp công nghệ phù hợp với năng lực tài chính, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhằm quản lý và chăm sóc khách hàng một cách chính danh, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào các nền tảng lớn.
Đối với người dân, việc nâng cao dân trí số là yếu tố then chốt. Dữ liệu cá nhân như số điện thoại, căn cước công dân, khuôn mặt hay thông tin thẻ ngân hàng cần được xem là tài sản quý giá, tương tự như ví tiền, và không nên tùy tiện cung cấp theo các trào lưu trên không gian mạng.
Có thể thấy, dữ liệu không còn đơn thuần là thông tin, mà đã trở thành tài sản chiến lược trong nền kinh tế số. Làm chủ dữ liệu không chỉ giúp doanh nghiệp giảm rủi ro, nâng cao năng lực cạnh tranh, mà còn là yếu tố then chốt để bảo vệ quyền lợi của người dân trên không gian mạng.
Trong bối cảnh các quy định pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân đang dần hoàn thiện, việc nâng cao nhận thức, sử dụng dữ liệu một cách minh bạch và có trách nhiệm chính là chìa khóa để kinh tế số phát triển bền vững, hài hòa giữa đổi mới và bảo vệ con người.
*Cám ơn Tiến sĩ!

