Trong nhiều năm, nông sản Việt Nam vẫn chủ yếu xuất khẩu dưới dạng thô hoặc sơ chế đơn giản. Điều đó khiến giá trị gia tăng chưa cao, trong khi áp lực cạnh tranh quốc tế ngày càng lớn. Khi các thị trường nhập khẩu liên tục siết tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và chất lượng sản phẩm, công nghệ chế biến sâu như là chìa khóa để ngành nông nghiệp nâng sức cạnh tranh và mở rộng dư địa tăng trưởng.
Ngành nông nghiệp hút công nghệ chế biến sâu – Giải pháp nâng giá trị
Thực tế cho thấy nhu cầu ứng dụng công nghệ sau thu hoạch hiện nay rất lớn, không chỉ ở doanh nghiệp mà cả các hợp tác xã và nông hộ sản xuất quy mô vừa và nhỏ. Tình trạng thất thoát sau thu hoạch, phụ thuộc vào thị trường tươi sống hay “được mùa mất giá” vẫn diễn ra ở nhiều địa phương. Trong khi đó, xu hướng tiêu dùng toàn cầu đang chuyển mạnh sang các sản phẩm chế biến, tiện lợi, có giá trị dinh dưỡng cao và bảo quản lâu hơn. Ông Hồ Quang Minh – Chủ tịch HỘI NET ZERO VIỆT NAM - CHÂU Á HCM SME – VANZA nhận định: “Nhu cầu thực phẩm của thế giới chỉ tăng chứ không giảm. Không chỉ tăng về số lượng, yêu cầu về chất lượng cũng ngày càng cao. Trong khi đó, diện tích đất canh tác dần thu hẹp do biến đổi khí hậu, đô thị hóa và vấn đề môi trường. Đây chính là cơ sở để chúng ta tận dụng thời cơ. Đặc biệt, vị thế địa chính trị của Việt Nam những năm gần đây đang rất tốt”.
Đây cũng là lý do nhiều viện trường, doanh nghiệp công nghệ trong nước bắt đầu đầu tư mạnh cho các giải pháp chế biến sâu nông sản. Từ công nghệ sản xuất gạo giàu tinh bột kháng, cơm ăn liền prebiotic, sữa hạt thực vật cho tới các mô hình tận dụng phụ phẩm như vỏ trái cây, bã mía hay rơm rạ để sản xuất phân hữu cơ, năng lượng sinh học… tất cả cho thấy công nghệ chế biến sau thu hoạch không còn là câu chuyện xa vời mà đang đi rất nhanh vào thực tiễn sản xuất. “Chúng tôi cung cấp nhiều thiết bị và giải pháp công nghệ giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra. Chúng tôi tư vấn chuyển giao công nghệ ở nhiều mức độ: từ cung cấp giải pháp thuần túy đến gia công, lắp đặt thiết bị tùy theo yêu cầu cụ thể của từng đơn vị.” - TS Đặng Văn Sử - Phó giám đốc Trung tâm Thí nghiệm thực hành – Trường Đại học Công Thương cho hay.
Điểm đáng chú ý là hệ sinh thái cung ứng công nghệ trong nước đang hình thành rõ nét hơn. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã có khả năng chế tạo các hệ thống cô đặc chân không, thiết bị sấy, chiết xuất, lên men hay dây chuyền quy mô nhỏ phù hợp với điều kiện của hợp tác xã và doanh nghiệp vừa và nhỏ. So với thiết bị nhập khẩu, công nghệ nội địa có lợi thế lớn về chi phí đầu tư, khả năng tùy biến theo từng loại nông sản và thuận lợi trong bảo trì, vận hành. – “Chi phí tại Việt Nam tối ưu nhất, không hề đắt đỏ. Giá thành rẻ đi kèm dịch vụ bảo hành, bảo trì tận nơi và có người hướng dẫn trực tiếp. Việc mua máy móc nước ngoài tiềm ẩn rủi ro cao. Máy có thể tốt ở giai đoạn đầu, nhưng khi gặp trục trặc, người nông dân khó tự xử lý. Nếu phải chờ kỹ thuật viên nước ngoài sang hỗ trợ sẽ rất vất vả. Hiện nay, các đơn vị trong nước như công ty Phát Việt đã đáp ứng toàn bộ nhu cầu này với dịch vụ hỗ trợ 24/24. Kể cả ban đêm, nếu máy móc hư hỏng, họ vẫn luôn có người trực để hỗ trợ kịp thời.” Đây là khẳng định của Th.S Đào Thanh Khê - Giám đốc Công ty TNHH Công nghệ thiết bị thực phẩm Pháp Việt, đơn vị đang sở hữu hơn 300 thiết bị công nghệ đáp ứng hấu hết nhu cầu chế biến sâu đối với nông sản Việt.
Để giảm đáng kể chi phí đầu tư ban đầu nhưng vẫn đáp ứng nhu cầu sản xuất thực tế, cải tạo được công nghệ chế biến sâu tiếp thì mô hình liên kết giữa nghiên cứu khoa học với doanh nghiệp là hướng đi tối ưu. Công nghệ mới không thể dừng ở mức thử nghiệm mà cần thương mại hóa rộng rãi. Nếu doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã đang thiếu vốn đầu tư, thiếu thông tin thị trường và kỹ năng quản trị công nghệ thì các chính sách hỗ trợ, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ đang phát huy vai trò quan trọng. TS Tiền Tiến Nam - Giám đốc Trung tâm Thí nghiệm thực hành – Trường Đại học Công Thương cho rằng: “Hoạt động nghiên cứu của doanh nghiệp còn hạn chế. Trừ những đơn vị lớn có tiềm lực và đội ngũ phát triển sản phẩm riêng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như không có bộ phận R&D. Vì vậy, chúng ta nên tận dụng nguồn lực R&D mạnh mẽ từ các viện, trường. Thay vì chi trả lương để thuê nhân viên nghiên cứu riêng, doanh nghiệp có thể dùng kinh phí đó để khai thác nguồn lực từ các cơ sở đào tạo. Cách làm này giúp các bên cùng chia sẻ lợi ích”.
Đặc biệt, Nghị quyết 57 đang mở ra kỳ vọng lớn khi đặt trọng tâm vào phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như động lực phát triển quốc gia. Với nông nghiệp, điều đó không chỉ là hỗ trợ nghiên cứu mà còn tạo cơ chế để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư công nghệ mới, thúc đẩy liên kết giữa viện trường với doanh nghiệp, hình thành các chuỗi giá trị chế biến hiện đại và phát triển kinh tế tuần hoàn. TS Tiền Tiến Nam - Giám đốc Trung tâm Thí nghiệm thực hành – Trường Đại học Công Thương cho biết thêm: “Quan điểm của chúng tôi: sản phẩm làm ra phải thực tế, cầm được, sờ được và ứng dụng được. Chúng tôi hoạt động theo hướng phục vụ cộng đồng. Ví dụ, một sản phẩm công nghệ giá trị 10 đồng, họ sẽ hỗ trợ doanh nghiệp khoảng 7 đến 8 đồng tùy mức độ công nghệ. Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã áp dụng chính sách này và ra mắt được sản phẩm thương mại trên thị trường.”
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt, chỉ xuất khẩu nguyên liệu sẽ khó tạo ra đột phá cho nông nghiệp Việt Nam. Chế biến sâu không đơn thuần là kéo dài thời gian bảo quản hay giảm thất thoát sau thu hoạch, mà còn là con đường nâng giá trị, xây dựng thương hiệu và đưa nông sản Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi công nghệ bắt đầu đi vào từng nhà máy, hợp tác xã và vùng nguyên liệu, đó cũng là lúc nông nghiệp Việt Nam có thêm cơ hội chuyển từ “bán cái mình có” sang “bán cái thị trường cần”.
