Khi nào sử dụng ma túy bị xử phạt hành chính, khi nào bị xử lý hình sự?

Sử dụng trái phép chất ma túy thường bị phạt hành chính nếu vi phạm lần đầu, nhưng người đang cai nghiện, thuộc diện quản lý sau cai hoặc tái phạm có thể bị truy cứu hình sự, đối mặt án tù đến 5 năm.

Như PLO đã thông tin, ngày 11/5, Công an TP Hải Phòng chính thức công bố thông tin về vụ việc sử dụng ma túy xảy ra tại đặc khu Cát Hải.

Khi nào sử dụng ma túy bị xử phạt hành chính, khi nào bị xử lý hình sự – Hình 1

Ảnh minh họa: luatvietnam

Theo đó, khoảng 12 giờ 30 phút ngày 10/5/2026, sau khi tiếp nhận tin báo của quần chúng nhân dân, Công an đặc khu Cát Hải tiến hành kiểm tra tại khu vực bãi tắm Tùng Thu, thuộc thôn 2 Cát Bà, đặc khu Cát Hải, Hải Phòng, và phát hiện 6 người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Trong số 6 người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy có bà Lê Ánh Nhật (35 tuổi, trú tại phường Nhiêu Lộc, TPHCM), tức ca sĩ Miu Lê.

Từ vụ việc nêu trên, nhiều bạn đọc đặt câu hỏi hành vi sử dụng ma túy sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định pháp luật.

Trao đổi với PLO, Luật sư Trần Duy Huy, Đoàn Luật sư TP Đồng Nai, cho biết trường hợp sử dụng trái phép chất ma túy lần đầu, chưa từng bị xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự, thì sẽ bị xử phạt hành chính thay vì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Cụ thể, theo khoản 1 và điểm a khoản 8 Điều 30 Nghị định 282/2025 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; và phòng, chống bạo lực gia đình, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng.

Trường hợp người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy được xác định là người nghiện ma túy theo Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp quản lý tại xã, phường hoặc lập hồ sơ đề nghị tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cũng theo luật sư Huy, người sử dụng trái phép chất ma túy còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256a BLHS năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2017 và 2025, với khung hình phạt từ 2 năm đến 3 năm tù nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, người đó đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc đang điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.

Thứ hai, người đó đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.

Thứ ba, người đó đang trong thời hạn 2 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và đồng thời đang trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.

Thứ tư, người đó đang trong thời hạn 2 năm kể từ khi tự ý chấm dứt việc cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc chấm dứt điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.

Trường hợp tái phạm đối với tội danh này thì có thể bị phạt tù từ 3 năm đến 5 năm.

“Bên cạnh đó, nếu quá trình khám xét người, hành lý hoặc các vật dụng liên quan của người vi phạm phát hiện có hành vi cất giữ, bảo quản trái phép chất ma túy thì người đó còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều 249 BLHS.

Trong quá trình điều tra, nếu cơ quan có thẩm quyền xác định người vi phạm có hành vi bàn bạc, thống nhất, thuê mướn địa điểm, chuẩn bị dụng cụ, phương tiện hoặc tìm kiếm, mua chất ma túy để cho người khác sử dụng trái phép thì người này cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 255 BLHS”, Luật sư Huy cho biết thêm.

Bình luận