[1]1. Thu hẹp cơ chế tự công bố, mở rộng diện phải đăng ký bản công bố hợp quy
Nghị định 46/2026/NĐ-CP đã điều chỉnh theo hướng siết chặt tiền kiểm cơ chế công bố sản phẩm. Cụ thể, theo Điều 4 Nghị định 46/2026/NĐ-CP tổ chức, cá nhân đăng ký bản công bố hợp quy đối với thực phẩm có quy chuẩn kỹ thuật về chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu an toàn thuộc một trong các trường hợp sau:
- Thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn;
- Phụ gia thực phẩm;
- Chất hỗ trợ chế biến thực phẩm;
- Dụng cụ chứa đựng, tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm;
- Bao bì chứa đựng, tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm.
Như vậy bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm và các sản phẩm có quy chuẩn kỹ thuật tương ứng phải đăng ký bản công bố hợp quy, thay vì chỉ tự công bố như trước.
Tại Điều 4 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân được tự công bố đối với thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến và dụng cụ, vật liệu bao gói tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm, trừ một số nhóm đặc thù. Cơ chế này cho phép doanh nghiệp được sản xuất, kinh doanh ngay sau khi tự công bố.
2. Lần đầu tiên bao bì, dụng cụ tiếp xúc thực phẩm được đưa vào diện quản lý chặt
Sang Nghị định 46/2026/NĐ-CP, nhóm sản phẩm này được xác định là đối tượng tiềm ẩn rủi ro, chịu sự quản lý chặt hơn về tiêu chuẩn kỹ thuật, hồ sơ và kiểm tra nhà nước, đặc biệt trong khâu nhập khẩu.
Cụ thể như
- Bao bì, dụng cụ tiếp xúc thực phẩm phải đăng ký bản công bố hợp quy (Điều 4)
- Bao bì, dụng cụ tiếp xúc thực phẩm được thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm (Điều 20)
- Được UBND cấp tỉnh quản lý điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm (Điều 51)
Tại Nghị định 15/2018/NĐ-CP dụng cụ, vật liệu bao gói tiếp xúc thực phẩm là một nhóm sản phẩm được tự công bố (khoản 1 Điều 4), không tách riêng cơ chế quản lý.
3. Lần đầu thiết lập lộ trình bắt buộc áp dụng HACCP, GMP
So với Nghị định 15/2018/NĐ-CP, Nghị định 46/2026/NĐ-CP kế thừa danh mục các trường hợp được miễn Giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm.
Tuy nhiên, điểm mới đáng chú ý là Nghị định 46 lần đầu tiên đặt ra lộ trình bắt buộc áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm đối với một số nhóm sản phẩm có nguy cơ cao, trong đó trọng tâm là thực phẩm bảo vệ sức khỏe và phụ gia thực phẩm.
Theo quy định tại Điều 12, Điều 15 và Điều 54 Nghị định 46/2026/NĐ-CP, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc diện áp dụng bắt buộc phải hoàn thành việc xây dựng và vận hành hệ thống quản lý an toàn thực phẩm phù hợp (như HACCP, GMP hoặc hệ thống tương đương) chậm nhất đến ngày 31/12/2026.
Nghị định 15/2018/NĐ-CP chỉ dừng ở việc cho phép miễn Giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với các cơ sở nhỏ lẻ hoặc cơ sở đã được chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm như HACCP, ISO 22000, GMP theo Điều 12, chưa đặt ra yêu cầu bắt buộc áp dụng các hệ thống này trong một mốc thời gian xác định.
4. Mở rộng đối tượng và chuẩn hóa toàn bộ quy trình kiểm tra an toàn thực phẩm nhập khẩu
So với Nghị định 15/2018/NĐ-CP, Nghị định 46/2026/NĐ-CP đã mở rộng rõ ràng phạm vi đối tượng phải kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm khi nhập khẩu. Theo quy định mới, ngoài thực phẩm và phụ gia thực phẩm, các bao bì, dụng cụ và vật liệu tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm cũng chính thức thuộc diện kiểm tra bắt buộc khi nhập khẩu vào Việt Nam.
Không chỉ mở rộng đối tượng, Nghị định 46 còn chuẩn hóa toàn bộ quy trình kiểm tra theo hướng chi tiết, thống nhất và có tính liên thông cao.
Từ Điều 19 đến Điều 28, Nghị định quy định đầy đủ các nội dung then chốt, bao gồm:
- Các trường hợp được miễn kiểm tra;
- Thẩm quyền của cơ quan kiểm tra nhà nước;
- Phương thức kiểm tra áp dụng (kiểm tra chặt, kiểm tra thông thường, kiểm tra giảm);
- Thành phần hồ sơ tương ứng với từng phương thức kiểm tra;
- Trình tự tiếp nhận, thẩm định hồ sơ, lấy mẫu, kiểm nghiệm;
- Thời hạn xử lý cụ thể ở từng khâu
- Cách thức thông báo kết quả để làm căn cứ thông quan.
Đặc biệt, Nghị định 46 phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong quy trình kiểm tra, từ cơ quan kiểm tra nhà nước, cơ sở kiểm nghiệm được chỉ định, cơ quan hải quan đến chủ hàng hóa nhập khẩu, hạn chế tình trạng chồng chéo, kéo dài thời gian xử lý như trước đây. Bên cạnh đó, các mốc thời gian giải quyết hồ sơ, trả kết quả kiểm nghiệm và ban hành thông báo đạt hoặc không đạt yêu cầu nhập khẩu đều được quy định cụ thể.
Trong khi đó, Nghị định 15/2018/NĐ-CP chủ yếu tập trung vào việc xác lập ba phương thức kiểm tra an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu tại Điều 16 và Điều 17, với phạm vi áp dụng chủ yếu đối với thực phẩm và phụ gia, chưa quy định đầy đủ, chi tiết và xuyên suốt về hồ sơ, trình tự, thời hạn xử lý cũng như trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan tham gia kiểm tra như cách tiếp cận mới tại Nghị định 46/2026/NĐ-CP.
5. Lần đầu ràng buộc trách nhiệm của sàn TMĐT đối với quảng cáo thực phẩm
Theo quy định tại Điều 26 và Điều 27 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, việc quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe và một số nhóm thực phẩm đặc thù chỉ được thực hiện sau khi đã đăng ký và được cơ quan có thẩm quyền xác nhận nội dung quảng cáo. Trách nhiệm tuân thủ chủ yếu thuộc về tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm và đơn vị thực hiện quảng cáo.
Nghị định 46/2026/NĐ-CP tiếp tục kế thừa yêu cầu kiểm soát chặt nội dung quảng cáo, đồng thời có một điểm mới là lần đầu tiên xác lập trách nhiệm pháp lý trực tiếp của các chủ thể trung gian trong môi trường số, bao gồm chủ sở hữu sàn thương mại điện tử, ứng dụng giao dịch trực tuyến và nền tảng trung gian.
Cụ thể, theo khoản 6 Điều 52 Nghị định 46/2026/NĐ-CP, chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử, ứng dụng cung cấp dịch vụ thương mại điện tử (bao gồm cả ứng dụng giao đồ ăn) có trách nhiệm:
- Xây dựng cơ chế kiểm duyệt, yêu cầu người bán cung cấp và công khai các giấy tờ pháp lý về sản phẩm theo quy định;
- Hợp tác với cơ quan quản lý nhà nước, kịp thời gỡ bỏ các sản phẩm vi phạm khi có yêu cầu;
- Chịu trách nhiệm liên đới trong trường hợp không thực hiện các biện pháp kiểm duyệt cần thiết, để xảy ra sự cố về an toàn thực phẩm gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
6. Quy định rõ về thời điểm truy xuất nguồn gốc sản phẩm
Theo Điều 42 và Điều 43 Nghị định 46/2026/NĐ-CP, cơ sở sản xuất, kinh doanh phải lưu trữ đầy đủ thông tin truy xuất nguồn gốc trong suốt quá trình lưu thông của sản phẩm, đồng thời kích hoạt ngay việc truy xuất khi phát hiện hoặc có thông báo về nguy cơ thực phẩm không bảo đảm an toàn.
Trường hợp xác định thực phẩm không đáp ứng yêu cầu an toàn, cơ sở có nghĩa vụ thực hiện thu hồi, xử lý sản phẩm và phối hợp cung cấp thông tin phục vụ quản lý rủi ro. Cách tiếp cận này nhằm tăng khả năng phát hiện sớm và xử lý kịp thời các sự cố an toàn thực phẩm trong thực tiễn.
Nghị định 15/2018/NĐ-CP, chưa làm rõ thời điểm bắt buộc phải thực hiện truy xuất, cũng như phạm vi và mức độ trách nhiệm trong từng tình huống cụ thể.

