Theo nội dung tranh chấp tại tòa, đại diện cho bị đơn cho rằng UBND tỉnhTây Ninh ra quyết định 1062 là bất hợp lý và không có tình. Bởi vào thời điểm năm 1991 nông trường cao su Bời Lời là đơn vị được UBND huyện Trảng Bàng giao đất theo Quyết định số 918 quản lý và sử dụng diện tích điều thu hồi của các cơ quan huyện để trồng cao su với diện tích 556.823,3 m2 tại ngã tư Bùng Binh xã Đôn Thuận, đồng thời được cấp giấy chứng nhận. Chính vì vậy Nông trường cao su Bời Lời được xem là đơn vị sử dụng đất hợp pháp mảnh đất trên.
Thời điểm từ năm 1994 đến 1997 Nông trường cao su Bời Lời ký hợp đồng kinh tế về việc giao khoán đất để sản xuất nông nghiệp thì toàn bộ phần đất trên đã được Nông trường bàn giao cho bà Phương quản lý, sử dụng không ai tranh chấp. Từ năm 1992 đến nay, bà Phương là người quản lý trực tiếp phần đất này ( có hợp đồng, giấy tờ đầy đủ).
Tuy nhiên, đến thời điểm ngày 3/12/2020 UBND thị Xã Trảng Bàng ra thông báo số 348 với nội dung thu hồi đất của bà Huỳnh Thị Lan Phương với diện tích dự kiến 556.823,3m², thửa đất số 01, 05, 08, tờ bản đồ 34 và thửa đất số 28, 47, tờ bản đồ 27 ấp Bùng Binh, xã Hưng Thuận, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, loại đất đang sử dụng đất trồng cây lâu năm.
Đại diện phía nguyên đơn, căn cứ trên một số điều khoản của luật đất đai cho rằng Hợp đồng kinh tế giữa Nông trường cao su Bời Lời với bà Huỳnh Thị Lan Phương có nội dung giao đất để trồng cao su với thời hạn 50 năm là không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai, nên buộc phẩi thu hồi.
Cũng theo đại diện bên bị đơn cho rằng, Nhà nước đang có chủ trương thu hồi đất thì phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về thu hồi đất, phải có căn cứ. Đối tượng bị thu hồi đất phải là Nông trường cao su Bời Lời (sau này là Nông trường cao su 30/4).
Nông trường cao su Bời Lời không bị giải thể mà chỉ sáp nhập vào Công ty Cao su 30/4 Tây Ninh nên Công ty Cao su 30/4 kế thừa các quyền và nghĩa vụ của Nông trường Cao su Bời Lời. Trong đó có quyền và nghĩa vụ liên quan đến các Hợp đồng kinh tế về giao khoán đất.
Nông trường Cao su 30/4 muốn giao đất lại cho UBND tỉnh thì phải chấm dứt hợp đồng với các hộ dân, cá nhân được giao khoán đất thương qua thương lượng, hòa giải và bồi thường thiệt hại theo quy định… về quan điểm này đại diện phía nguyên đơn (UBND Thị xã Trảng Bàng ) không có ý kiến gì khác, mà cho rằng đã nộp đầy đủ các văn bản, quy định cho hội đồng xét xử và giữ quan điểm theo nội dung đơn khởi kiện tại tòa.
Theo hội đồng xét xử nhận định tại phiên tòa, số diện tích đất hơn 55 ha mà bà Phương đang sử dụng, là phần đất đang tranh chấp nằm trong khu 900 hécta mà UBND Tỉnh Tây Ninh giao cho UBND thị Xã Trảng Bàng từ năm 2001 nên UBND thị xã Trảng Bàng yêu cầu khởi kiện là có căn cứ.
Về thẩm định giá trị tài sản trên đất, Hội đồng xét xử chỉ xem xét giá trị cây cao su và một phần tài sản trên đất, giá trị cây cao su hội đồng xét xử căn cứ vào văn bản của tập đoàn cao su VN và cho rằng hiện nay cây cao su đã hết chu kì khai thác ( theo văn bản là 26 năm), bà Phương khai thác đến thời điểm hiện nay là 29 năm.
Dựa trên phần tranh luận của các bên nguyên đơn và bị đơn, ý kiến Viện Kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm, Hội Đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tuyên hợp đồng kinh tế giữa bà Huỳnh Thị Lan Phương và Nông trường bời lời ( nay là nông trường cao su 30/4) vô hiệu, buộc bà Phương giao lại hơn 55 ha đất đang canh tác cao su cho UBND thị xã Trảng Bàng, yêu cầu phía nguyên đơn ( UBND thị xã Trảng Bàng) có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Phương hơn 12 tỷ đồng ( theo giá thẩm định tại tòa).
Bà Phương không chấp nhận kết quả phán quyết này nên có đơn kháng cáo yêu cầu phúc thẩm.

