Theo trang ScienceAlert ngày 19/5, nghiên cứu do các nhà khoa học tại Đại học Durham và Đại học Aston (Anh) thực hiện, phát hiện những trẻ từng tiếp xúc với mùi vị của một số loại rau thông qua chế độ ăn của mẹ trong thai kỳ có xu hướng ít phản ứng tiêu cực hơn với chính loại rau đó khi lên 3 tuổi.
Nhóm nghiên cứu theo dõi các trẻ từng tham gia một thí nghiệm trước đó từ giai đoạn bào thai.
Các bà mẹ mang thai tuần thứ 32 và 36 được cho dùng viên nang chứa bột cà rốt hoặc cải xoăn đậm đặc. Sau đó các nhà khoa học sử dụng siêu âm để ghi nhận phản ứng khuôn mặt của thai nhi.
Kết quả công bố năm 2022 cho thấy thai nhi dường như đã phản ứng khác nhau với các mùi vị này ngay từ trong bụng mẹ.
Theo các nhà nghiên cứu, đến tam cá nguyệt thứ ba, khoảng tuần thai thứ 28 trở đi, bào thai đã phát triển đủ để cảm nhận mùi và vị thông qua nước ối. Các hợp chất hương vị từ thực phẩm mẹ ăn có thể đi qua nhau thai, tạo nên trải nghiệm cảm giác đầu đời cho thai nhi.
Trong nghiên cứu mới, khi các bé lên 3 tuổi, nhóm nghiên cứu cho 12 trẻ tiếp xúc với mùi cà rốt và cải xoăn thông qua tăm bông có thấm hương. Biểu cảm của trẻ được ghi nhận theo hai nhóm: phản ứng tích cực (mặt vui) và phản ứng tiêu cực (mặt khó chịu).
Kết quả cho thấy trẻ ít có phản ứng tiêu cực hơn với loại rau mà chúng từng tiếp xúc trong bụng mẹ. Đặc biệt, dù cải xoăn, loại rau có vị đắng, thường tạo phản ứng kém tích cực hơn song việc tiếp xúc sớm vẫn giúp giảm mức độ "khó chịu".
Điều này cho thấy việc tiếp xúc hương vị ở giai đoạn cuối thai kỳ có thể tạo ra "ký ức mùi vị" kéo dài nhiều năm sau sinh, từ đó ảnh hưởng đến sở thích ăn uống của trẻ.
Dù vậy, các tác giả cũng nhấn mạnh nghiên cứu còn hạn chế do quy mô nhỏ, chỉ khảo sát một nhóm dân số và chưa theo dõi đầy đủ các yếu tố tác động sau sinh. Ngoài ra, sở thích thực phẩm còn chịu ảnh hưởng của di truyền, văn hóa và môi trường sống.
Tuy nhiên kết quả vẫn mở ra hướng nghiên cứu đáng chú ý: việc tiếp xúc mùi vị từ sớm có thể trở thành công cụ hỗ trợ giúp trẻ chấp nhận tốt hơn những loại rau hay thường bị từ chối.
Nghiên cứu công bố trên tạp chí Developmental Psychobiology.

