028.38225933 (Hotline) - 028 3822 1188 (FM 95.6) - 028 38291 357
icon-radio-fm-999-mhz
logo-voh-radio-online
Điện thoại: 028.38225933 - 028.38225934
Đường dây nóng bạn nghe đài: 028.3891 357 - 0948747571

Giá cà phê hôm nay 29/12/2020: Giá cà phê Arabica suy giảm, trong nước đứng giá

(VOH) - Giá cà phê ngày 29/12 đi ngang tại hầu hết các địa phương vùng trồng cà phê trọng điểm Tây Nguyên và Miền Nam. Giá cà phê Arabica thế giới suy giảm.

Giá cà phê trong nước hôm nay cao nhất tại tỉnh Đắk Lắk là 33.100 đồng/kg, giá thấp nhất tại tỉnh Lâm Đồng là 32.400 đồng/kg.

Cụ thể, mở cửa phiên giao dịch hôm nay giá cà phê tại Lâm Đồng đi ngang, tại Bảo Lộc, Lâm Hà ở  mức 32.500 đồng/kg, tại Di Linh ở ngưỡng 32.400 đồng/kg.

Giá cà phê tại Đắk Lắk cũng đứng yên, tại Cư M'gar dao động ở mức 33.100 đồng/kg, tại Buôn Hồ  giá cà phê  ở  ngưỡng 32.900 đồng/kg.

Giá cà phê tại Gia Lai đi ngang, ở Pleiku và Ia Grai giao dịch ở mức 32.800 đồng/kg.

Giá cà phê tại Đắk Nông không đổi, dao động ở  ngưỡng 32.800 đồng/kg.

Riêng giá cà phê tại Kon Tum đi ngang, dao động ở  mức 32.700 đồng/kg.        

Giá cà phê giao tại cảng TP HCM ổn định, dao động ở ngưỡng  34.600 đồng/kg.

Giá cà phê Robusta xuất khẩu loại 2, 5% đen vỡ, đứng ở 1.493 USD/tấn, FOB – HCM, với mức chênh lệch cộng 80 – 100 USD/tấn theo giá kỳ hạn tháng 5 tại London.

Tỉnh
/huyện (khu vực khảo sát)

Giá thu mua
Đơn vị: VNĐ/kg

Thay đổi

LÂM ĐỒNG

 

 

— Bảo Lộc (Robusta)

32,500

0

— Lâm Hà (Robusta)

32,500

0

— Di Linh (Robusta)

32,400

0

ĐẮK LẮK

 

 

— Cư M'gar (Robusta)

33.100

0

— Buôn Hồ (Robusta)

32,900

0

GIA LAI

 

 

— Pleiku (Robusta)

32,800

0

_ Ia Grai (Robusta)

32,800

0

ĐẮK NÔNG

 

 

— Gia Nghĩa (Robusta)

32,800

0

KON TUM

 

 

— Đắk Hà (Robusta)

32.600

0

TP.HỒ CHÍ MINH

 

 

— R1

34,5 00

0

Giá cà phê hôm nay 29/12/2020
Ảnh minh họa: internet

Ở thị trường trong nước những ngày đầu tháng 11, giá cà phê trong nước tăng so với cuối tháng 10. Ngày 9/11, giá cà phê trong nước tăng từ 500 – 600 đồng/kg (tương đương mức tăng từ 1,5 – 1,9%) so với ngày 30/10.

Tại cảng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, cà phê Robusta loại R1 tăng 1,7% so với ngày 30/10, lên mức 34.900 đồng/kg.

Theo ước tính của Cục Xuất nhập khẩu, xuất khẩu cà phê tháng 11 giảm 23,1% về lượng và giảm 18,7% về trị giá so với tháng 10, so với tháng 11/2019 giảm 37,5% về lượng và giảm 30% về trị giá, đạt 70 nghìn tấn, trị giá 137 triệu USD.

Tính chung 11 tháng năm 2020, xuất khẩu cà phê ước đạt 1,41 triệu tấn, trị giá 2,46 tỉ USD, giảm 3,9% về lượng và giảm 2,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019.

Giá xuất khẩu bình quân cà phê tháng 11 ước đạt mức 1.963 USD/tấn, tăng 5,7% so với tháng 10 và tăng 12,2% so với tháng 11/2019.

Trong 11 tháng năm 2020, giá xuất khẩu bình quân cà phê ước đạt mức 1.745 USD/tấn, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm 2019.

Theo tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cà phê robusta tháng 10 đạt 76,8 nghìn tấn, trị giá 119,2 triệu USD, tăng 4,4% về lượng và tăng 9,1% về trị giá so với tháng 10/2019.

Trong 10 tháng năm 2020, xuất khẩu cà phê robusta đạt 1,14 triệu tấn, trị giá 1,71 tỉ USD, giảm 1,1% về lượng và giảm 2,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019.

Trong đó, xuất khẩu cà phê robusta sang một số thị trường chính giảm, như: Mỹ, Tây Ban Nha, Nga, Bỉ, Thái Lan, Malaysia, Anh, Ấn Độ, Pháp; ngược lại, xuất khẩu cà phê robusta sang các thị trường khác tăng, gồm: Đức, Italy Nhật Bản, Philippines.

Tháng 11, giá cà phê trong nước tăng so với cuối tháng 10. Ngày 28/11, giá cà phê trong nước tăng từ 1,2 – 1,9% so với ngày 30/10.

Mức tăng cao nhất 1,9% tại huyện Đắk Hà tỉnh Kon Tum, lên mức 33.000 đồng/kg. Tại cảng khu vực TP HCM, cà phê robusta loại R1 tăng 400 đồng/kg (1,2%) so với ngày 30/10, lên mức 34.700 đồng/kg.

Giá cà phê Arabica thế giới giảm

Báo cáo tồn kho cà phê Arabica tại sàn ICE – New York đã tăng lên mức cao hơn 4 tháng cũng góp thêm phần làm giá sụt giảm.

Giá cà phê Robusta (ICE Futures Europe)

Kỳ hạn

Giá khớp

Thay đổi

%

Số lượng

Cao nhất

Thấp nhất

Mở cửa

Hôm trước

HĐ Mở

01/21

1369

0

0

0

1369

1369

0

1369

6560

03/21

1383

0

0

0

1383

1383

0

1383

44707

05/21

1393

0

0

0

1393

1393

0

1393

20264

07/21

1406

0

0

0

1406

1406

0

1406

16755

Giá cà phê Arabica (ICE Futures US)

Kỳ hạn

Giá khớp

Thay đổi

%

Số lượng

Cao nhất

Thấp nhất

Mở cửa

Hôm trước

HĐ Mở

03/20

123.35

-2.60

-2.06

13623

126.5

121.5

125.75

125.95

111262

05/20

125.3

-2.55

-1.99

4480

128.35

123.45

127.4

127.85

45445

07/21

126.9

-2.55

-1.97

1569

129.6

125.05

128.95

129.45

35146

09/21

128.4

-2.55

-1.95

1002

131.35

126.6

130.35

130.95

27905

Phiên giao dịch ngày 29/12, giá cà phê Arabica trên sàn ICE US – New York suy yếu trở lại. Kỳ hạn giao ngay tháng 3 giảm 2,6 cent/lb, xuống 123,35 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 5 giảm 2,55 cent, còn 125,3 cent/lb, các mức giảm khá mạnh. Khối lượng giao dịch dưới mức trung bình.

Trong khi đó, sàn ICE Europe – London nghỉ Ngày Tặng Quà (Boxing Day) của Vương Quốc Anh, không giao dịch.

Đồng Reais giảm thêm 0,75 %, xuống đứng ở mức 1 USD = 5,2390 Reais do sự điều chỉnh, cân đối có tính cục bộ. Vả lại, giao dịch thấp trong tuần lễ cuối cùng của năm và mối lo việc triển khai tiêm chủng chậm chạp sẽ khiến Brasil có nguy cơ tụt hậu so với nhiều nền kinh tế lớn khác. Trong khi thị trường bên ngoài tỏ ra lạc quan từ việc tổng thống Mỹ đã ký ban hành gói cứu trợ mới và Vương quốc Anh đã có một số đồng thuận với EU về Brexit.

Giá cà phê Arabica sụt giảm không chỉ vì đồng Reais suy yếu trở lại và các dự báo thời tiết từ Brasil cho thấy đã có nhiều cơn mưa trên mức trung bình tại các vùng trồng cà phê chính ở phía đông nam và khô hạn không còn là mối lo đáng kể để quan tâm. Trong khi báo cáo tồn kho dự trữ tại sàn ICE – New York đã tăng lên mức cao hơn 4 tháng cũng góp thêm phần làm giá giảm trở lại.

Thị trường cà phê cũng có thông tin từ bà Judith Ganes, một chuyên gia hàng hóa rất có uy tín vừa đi thăm các vùng cà phê bị khô hạn ở Brasil và cho rằng sản lượng của Brasil vụ tới chưa thể đánh giá hết được, vì khô hạn diễn ra có tính cục bộ. Theo bà, vùng trồng nào đã bị khô hạn tác động thì không chỉ gây hại 20 – 30 % mà có thể 50% hoặc hơn nữa.