Thị trường các mặt hàng nông sản ngày 15/7, giá lúa tươi tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đồng loạt tăng mạnh, cà phê chịu áp lực đi xuống ở cả kênh nội địa lẫn thế giới; giá hồ tiêu trong nước điều chỉnh giảm sâu từ 3.000 đến 4.000 đồng/kg.
Thị trường cà phê trong nước và thế giới đồng loạt giảm nhẹ
Thị trường cà phê nhân xô tại khu vực Tây Nguyên trong sáng nay ghi nhận mức giảm nhẹ 200 đồng/kg so với ngày hôm qua, đưa mặt bằng giá thu mua toàn vùng về mức 94.500 - 95.100 đồng/kg. Theo đó, tỉnh Đắk Nông hoặc khu vực Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục duy trì mức giá cao nhất khu vực khi đạt 95.100 đồng/kg.
Hai tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai cùng điều chỉnh giảm về mức 95.000 đồng/kg, trong khi tỉnh Lâm Đồng ghi nhận mức giá thấp nhất toàn vùng khi đạt 94.500 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê đồng loạt quay đầu giảm ở cả hai sàn giao dịch kỳ hạn lớn. Tại sàn London, giá cà phê Robusta kỳ hạn giao tháng 9/2026 giảm 18 USD/tấn, tương đương 0,47%, xuống còn 3.834 USD/tấn, trong khi hợp đồng giao tháng 11 cũng giảm 23 USD/tấn, tương đương 0,6%, về mức 3.796 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê Arabica kỳ hạn giao tháng 9/2026 chịu mức giảm 4,25 US cent/pound, tương đương 1,27%, xuống còn 330 US cent/pound, và kỳ hạn giao tháng 12 giảm 4,95 US cent/pound, tương đương 1,57%, chốt ở mức 311,05 US cent/pound.
Theo phân tích từ Barchart, áp lực giảm giá này xuất phát từ dự báo thời tiết tại các vùng trồng chủ lực của Brazil tiếp tục duy trì điều kiện khô ráo trong tuần, giúp hoạt động thu hoạch diễn ra thuận lợi và đẩy nhanh nguồn cung ra thị trường.
Thị trường hồ tiêu biến động mạnh
Khảo sát sáng hôm nay cho thấy, giá hồ tiêu tại các địa phương sản xuất trọng điểm trong nước đồng loạt điều chỉnh giảm mạnh từ 3.000 - 4.000 đồng/kg so với ngày hôm qua, sau nhiều ngày duy trì ổn định ở vùng giá cao. Mức giảm này đã đưa mặt bằng giá thu mua hạt tiêu toàn quốc lùi về còn 134.500 - 137.000 đồng/kg.
Trong đó, tỉnh Đắk Nông hoặc khu vực Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (thành phố Hồ Chí Minh) là những nơi ghi nhận mức giảm sâu nhất lên tới 4.000 đồng/kg, đưa giá thu mua lần lượt về mốc 137.000 đồng/kg và 135.000 đồng/kg. Tại tỉnh Gia Lai, giá tiêu giảm 3.500 đồng/kg, xuống mức 134.500 đồng/kg và là mức thấp nhất trong các vùng khảo sát; trong khi đó, hai tỉnh Đắk Lắk và Đồng Nai cùng giảm 3.000 đồng/kg, lần lượt giao dịch ở mức 137.000 đồng/kg và 135.000 đồng/kg.
Trái ngược với đà lao dốc ở thị trường nội địa, giá hồ tiêu trên thị trường quốc tế tiếp tục trạng thái đi ngang ổn định theo số liệu công bố của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC). Giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam đối với loại 500 g/l và 550 g/l duy trì chào bán lần lượt ở mức 5.850 USD/tấn và 5.950 USD/tấn, trong khi tiêu trắng đạt 8.200 USD/tấn.
Đối với các quốc gia khác, tiêu đen Lampung của Indonesia giữ mức 7.079 USD/tấn, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 đạt 5.900 USD/tấn, tiêu đen Malaysia tiếp tục giữ mức cao nhất là 9.350 USD/tấn, còn tiêu trắng Muntok của Indonesia và tiêu trắng Malaysia lần lượt đạt 9.198 USD/tấn và 12.250 USD/tấn.
Liên quan đến tình hình xuất khẩu, Cục Xuất nhập khẩu thuộc Bộ Công Thương dẫn số liệu từ Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ cho biết, nhập khẩu hạt tiêu của Mỹ trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 40,02 nghìn tấn, trị giá 298,55 triệu USD, tăng 10,4% về lượng và 11,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Việt Nam tiếp tục là nguồn cung hạt tiêu lớn nhất cho Mỹ khi đạt 31,95 nghìn tấn, trị giá 239,73 triệu USD, tăng mạnh 36,8% về lượng và 35,8% về trị giá, qua đó nâng thị phần về lượng từ 64,40% lên 79,82%. Ngược lại, phần lớn các đối thủ cạnh tranh của Việt Nam tại Mỹ đều sụt giảm mạnh như Indonesia giảm 65,2%, Ấn Độ giảm 23,4%, nhóm thị trường khác giảm 27,7, duy chỉ có Brazil tăng 14,3% về lượng nhưng cũng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ 4,91% thị phần nhập khẩu của Mỹ.
Giá lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long tăng mạnh, gạo xuất khẩu đứng giá
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo hôm nay ghi nhận xu hướng tăng so với ngày hôm trước, đặc biệt là phân khúc lúa tươi với mức tăng mạnh lên tới 500 đồng/kg theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang. Cụ thể, giá lúa tươi Đài Thơm 8 tăng lên mức dao động từ 6.900 - 7.100 đồng/kg, lúa tươi IR 50404 đạt mốc 6.000 - 6.200 đồng/kg, và lúa tươi OM 5451 dao động quanh mức 6.300 - 6.500 đồng/kg.
Đối với các giống lúa khác, lúa tươi OM 34 giữ mốc từ 5.600 - 5.700 đồng/kg, còn lúa tươi OM 18 ổn định ở ngưỡng 6.300 - 6.500 đồng/kg. Giao dịch mua bán mới tại địa phương nhìn chung còn chậm khi nông dân tại Đồng Tháp neo giá cao khiến thương lái ít hỏi mua, riêng tại Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh có xu hướng tăng nhẹ.
Đối với mặt hàng gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, giá giao dịch trong ngày duy trì ổn định ở mức tương đối cao. Cụ thể, gạo nguyên liệu IR 504 dao động ở mức 9.050 - 9.100 đồng/kg, gạo nguyên liệu CL 555 đạt mức 9.400 - 9.500 đồng/kg, gạo nguyên liệu OM 5451 dao động từ 9.500 - 9.600 đồng/kg, gạo nguyên liệu OM 18 từ 8.700 - 8.850 đồng/kg, gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 đạt 9.200 - 9.400 đồng/kg, còn hai loại gạo nguyên liệu OM 380 và Sóc thơm cùng giữ mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Trong khi đó, gạo thành phẩm IR 504 ổn định trong khoảng 10.750 - 10.900 đồng/kg, mặt hàng phụ phẩm như tấm thơm tăng nhẹ 100 đồng/kg lên mức 8.200 - 8.300 đồng/kg, và giá cám dao động từ 7.950 - 8.100 đồng/kg.
Tại hệ thống các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục đi ngang với mức niêm yết cao nhất thuộc về gạo Nàng Nhen ở mức 28.000 đồng/kg, gạo Nhật và Hương Lài lần lượt đạt 22.000 đồng/kg, các loại gạo trắng thông dụng và gạo thường dao động từ 13.000 đến 16.000 đồng/kg.
Trái ngược với đà tăng của lúa tươi nội địa, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường quốc tế tiếp tục trạng thái đứng giá theo công bố của Hiệp hội Lương thực Việt Nam. Dòng gạo Jasmine được chào bán ở mức 513 - 517 USD/tấn, gạo thơm loại 5% tấm dao động từ 510 - 520 USD/tấn, và gạo thơm loại 100% tấm giữ nguyên mức 348 - 352 USD/tấn.
Giá gạo xuất khẩu 5% tấm của các đối thủ cạnh tranh trên thế giới cũng có sự phân hóa khi gạo của Thái Lan chào bán ở mức 478 - 482 USD/tấn (loại 100% tấm đạt 409 - 413 USD/tấn), còn gạo của Ấn Độ tiếp tục duy trì ở phân khúc thấp hơn với mức 350 - 354 USD/tấn cho loại 5% tấm và 280 - 284 USD/tấn đối với loại 100% tấm.

