Ngày 17/3, Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM tổ chức hội thảo: định hướng nghiên cứu, ứng dụng lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn phục vụ phát triển bền vững và quản trị siêu đô thị TPHCM.
Ông Lê Thanh Minh, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM cho biết: “Đây là một chương trình mới so với nhiệm kỳ trước với đặc thù sau sáp nhập với nhiều quy định mới của Trung ương; đòi hỏi thành phố phải có những cơ sở lý luận khoa học, đề xuất các cơ chế, chính sách, mô hình phát triển kinh tế phục vụ; sự cần thiết có chương trình nghiên cứu lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn phục vụ xây dựng chính sách, đề xuất các mô hình phát triển kinh tế xã hội của TPHCM nhiệm kỳ 2026-2030”.
Ông Trần Đình Trúc, Trưởng phòng Quản lý khoa học, Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM cho biết các định hướng nghiên cứu trọng tâm giai đoạn 2026–2030:
“Về định hướng nghiên cứu trọng tâm của lĩnh vực khoa học xã hội nhân dân trong giai đoạn 2026-2030 sắp tới tập trung vào ba lĩnh vực chính, thứ nhất là thể chế quản trị, thứ hai là kinh tế xã hội, thứ ba là con người và hội nhập. Sau khi sáp nhập thành phố là một siêu đô thị đa trung tâm, đa ngành, đa lĩnh vực, mình phải có một cơ chế cơ sở lý luận hoặc là một giải pháp gì đó để giúp chính quyền thành phố trong quản trị siêu đô thị đặc biệt này”.
Trong mô hình siêu đô thị, TPHCM đang đối mặt với nhiều thách thức lớn như ngập nước, ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông và bài toán xây dựng thành phố không ma túy. Song song đó là yêu cầu phát triển kinh tế nhanh, bền vững, hướng đến mục tiêu tăng trưởng hai con số vào năm 2030, với kinh tế số chiếm trên 40% GRDP. Những mô hình như kinh tế tuần hoàn, kinh tế số, kinh tế tri thức, kinh tế xanh được xem là hướng đi trọng tâm.
Với quy mô dân số sau sáp nhập hơn 14 triệu người, trong đó khoảng 50% là lao động trong các khu công nghiệp, bài toán nâng cao chất lượng sống, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy hội nhập quốc tế ngày càng trở nên cấp thiết. Một thực tế được chỉ ra là việc chuyển hóa kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn vẫn còn hạn chế.
Làm thế nào để các nghiên cứu lý luận trở thành chính sách cụ thể, đi vào đời sống là vấn đề lớn đặt ra hiện nay. GS.TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh, Đại học Kinh tế TPHCM:
“Các chính sách được hình thành qua nhiều công đoạn và nền tảng khác nhau. Từ góc độ chính sách, các sản phẩm khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn khi áp dụng vào thực tiễn cần gắn chặt với nền tảng nghiên cứu. Nghiên cứu phải xuất phát từ thực tiễn, đồng thời việc xây dựng chính sách cũng phải dựa trên các luận cứ khoa học vững chắc. Khi khoa học càng phát triển sâu và rộng, mức độ gắn kết giữa nghiên cứu và thực tiễn càng cao. Do đó, cần hình thành mạng lưới trung gian tư vấn chính sách nhằm kết nối hiệu quả hơn giữa khoa học và thực tiễn. Bên cạnh đó, cơ chế sandbox trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cũng cần được nhân rộng và triển khai”.
PGS.TS, Đại tá Lê Thị Hiền Lương, Trưởng khoa Lý luận chính trị và Khoa học xã hội nhân văn, Trường Đại học An ninh nhân dân nhìn nhận, trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và kinh tế số phát triển, công tác đảm bảo an ninh đô thị đang đứng trước nhiều thách thức mới.
“Sự phát triển mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa, cùng với gia tăng dân số và sự phát triển của nền kinh tế số, đang làm xuất hiện nhiều rủi ro và thách thức mới đối với công tác quản trị đô thị và đảm bảo trật tự, an ninh xã hội. Vì vậy, nghiên cứu các vấn đề an ninh không chỉ phục vụ công tác giữ gìn trật tự, an toàn xã hội mà còn gắn trực tiếp với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của thành phố.
An ninh không chỉ là kết quả của các biện pháp kiểm soát rủi ro, mà còn là sản phẩm của hệ thống thể chế, chính sách phát triển và quá trình tổ chức thực thi. Do đó, cần chú trọng nghiên cứu lý luận và chính sách nhằm làm rõ mối quan hệ giữa phát triển và an ninh trong bối cảnh xã hội hiện đại.”
PGS.TS, Đại tá Lê Thị Hiền Lương cũng đề xuất nhiều hướng nghiên cứu cụ thể như xây dựng khung lý luận về an ninh đô thị, nghiên cứu an ninh phi truyền thống, phát triển mô hình quản trị an ninh cơ sở, cũng như đẩy mạnh phương pháp nghiên cứu liên ngành, kết hợp dữ liệu lớn và công nghệ số trong hoạch định chính sách.
TPHCM hiện sở hữu nguồn lực khoa học – công nghệ rất lớn. Theo PGS.TS Vũ Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ:
“TPHCM hiện có khoảng 60 trường đại học với 127 cơ sở đào tạo, cùng 149 viện nghiên cứu và tổ chức khoa học, công nghệ. Theo thống kê năm 2024, có khoảng 93.000 giảng viên đại học, trong đó gần 30.000 người có trình độ từ tiến sĩ trở lên. Đây là một lực lượng khoa học – công nghệ rất hùng hậu, chưa kể nguồn nhân lực từ các địa phương lân cận như Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu. Nguồn lực này tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển, vấn đề đặt ra là làm thế nào để hình thành một hệ sinh thái tri thức hiệu quả, qua đó kết nối và khai thác tối đa nguồn nhân lực, đóng góp thiết thực vào sự phát triển của các lĩnh vực của thành phố”.

Hội thảo không chỉ mở ra định hướng nghiên cứu mới, mà còn đặt nền móng cho việc gắn kết chặt chẽ hơn giữa khoa học và thực tiễn yếu tố then chốt để TPHCM phát triển nhanh, bền vững và hiệu quả trong giai đoạn tới.




