Sức ép tuân thủ quy định EPR và yêu cầu khắt khe từ chuỗi cung ứng toàn cầu đang đặt các doanh nghiệp sản xuất trước bài toán lớn. Làm thế nào để chuyển đổi xanh mà không làm đứt gãy dây chuyền hay thâm hụt dòng tiền? Nhằm đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp trong lộ trình này, ngày 10/9, Hiệp hội Tái chế Chất thải Việt Nam (VWRA) tổ chức Hội thảo “Gia tăng giá trị từ nhựa – cao su tái chế: Công nghệ, Vật liệu bền vững và Đầu tư xanh”.
Ngành nhựa và cao su đang đứng trước bước ngoặt quan trọng khi bài toán tăng trưởng phải song hành cùng nhiệm vụ bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Thực tế cho thấy dư địa phát triển của ngành là rất lớn: Mỗi năm Việt Nam phát sinh khoảng 5,64 triệu tấn chất thải nhựa, nhưng hiện chỉ có khoảng 11% được thu gom và tái chế hiệu quả. Việc không tái chế hết lượng rác thải nhựa sinh hoạt đang gây lãng phí gần 3 tỷ USD mỗi năm. Quy mô thị trường nhựa tái chế Việt Nam đạt trên 280.000 tấn trong năm 2025 và dự báo sẽ tăng trưởng với tốc độ bình quân 9%/năm, vươn tới mức hơn 665.000 tấn vào năm 2035.
Ông Trần Việt Anh - Chủ tịch Hiệp hội Tái chế Chất thải Việt Nam cho rằng, trước áp lực quản lý hơn 5 triệu tấn rác thải nhựa và hàng triệu tấn cao su mỗi năm, việc khai thác tài nguyên từ rác để thay thế nguyên liệu chính phẩm đã trở thành bài toán cấp thiết hướng tới mục tiêu Net Zero. Nhờ sự tích cực đóng góp và hiến kế từ giới khoa học lẫn lực lượng trẻ, ông kỳ vọng Việt Nam sẽ tiên phong nâng tầm ngành tái chế thành một lĩnh vực đầu tư trọng điểm quốc gia, có sức hút dòng vốn mạnh mẽ không kém các ngành bất động sản, ngân hàng hay logistics: “Khi chúng ta bỏ ra một sản phẩm, lấy vào một nguyên liệu thì chúng ta lấy được cái gì từ chính tái chế để mà thay thế những nguyên liệu chính phẩm. Do đó, ngoài việc các nhà khoa học, các chuyên gia nói về những thông số khoa học, chúng ta hiến kế, chúng ta đề xuất để làm sao mà khai thác được nguồn tài nguyên từ chính cái rác thải của nhựa và cao su, để Việt Nam chúng ta tiên phong trong việc mà đưa ngành tái chế là một ngành quan trọng.”
Phó Giáo sư Tiến sĩ Lê Thị Kim Oanh - Trưởng Khoa Môi trường; Trưởng Phòng Phát triển Nghiên cứu Khoa học, Trường Đại học Văn Lang cho hay, liên quan đến hoạt động dài hạn, chúng ta định vị để thành người dẫn đầu công nghệ tái chế, biến EPR và kinh tế tuần hoàn thành một cái lợi thế cạnh tranh. Nó không hẳn chỉ là tuân thủ nữa, mà nó là lợi thế cạnh tranh để tiếp cận được những thị trường khó tính: “Chúng ta mở rộng đầu tư, nghiên cứu và phát triển cũng như là đầu tư nhân lực cho nó đồng bộ. Một lời nhắn nhủ của mình đó là nhựa, cao su tái chế không còn là một cái gánh nặng môi trường nữa, mà nó lại là một cái ngành công nghiệp có giá trị mới, và đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, rất là mong chúng ta cùng cân nhắc để chuyển đổi.”
Ông Đặng Khải Hoàng - Giám đốc Phát triển Kinh doanh Solarvest Vietnam cho rằng, lộ trình làm sao để chúng ta đạt 100% năng lượng xanh, đơn giản nhất mà mỗi nhà máy có thể làm, ở đây chúng ta có 4 tầng giải pháp, có Rooftop Solar là điện mặt trời áp mái, có pin lưu trữ, có mua bán điện trực tiếp và có I-REC, đây là một lộ trình có thể hỗ trợ các doanh nghiệp đạt được 100%. Chắc chắn không phải doanh nghiệp nào cũng như nhau, nhưng đây là lộ trình chung nhất mà doanh nghiệp có thể tham khảo: “Điện mặt trời áp mái là cái khả dĩ nhất và đơn giản nhất cho các anh chị có thể đầu tư về năng lượng xanh. Đối với điện mặt trời áp mái này thì hiện tại Nghị định 243 vừa sửa đổi, thì họ cho đăng ký điện mặt trời áp mái này nếu các anh chị tự đầu tư thì các anh chị sẽ phải đăng ký giấy phép theo Nghị định 58, đó là tự sản tự tiêu. Và rất rõ cho một bên đầu tư bên ngoài là theo Nghị định 57 là mua bán điện qua đường dây trực tiếp. Bây giờ cơ chế đã rất rõ, các anh chị có thể làm ngay lập tức và hãy làm đi trước khi mà họ thay đổi cơ chế tiếp nữa, bởi vì đối với ngành năng lượng này họ thay đổi cơ chế liên tục.”
Theo ông Lê Anh - Giám Đốc Phát Triển Bền Vững DUYTAN Group, ngành nhựa Việt Nam đạt quy mô 34,3 tỷ đô la Mỹ với mức tiêu thụ 62 kg/người/năm, nhưng vẫn phải phụ thuộc lớn vào nguồn nhựa nguyên sinh nhập khẩu (9,65 triệu tấn/năm). Để giải bài toán này và hướng tới kinh tế tuần hoàn, các doanh nghiệp tái chế công nghệ cao đã đẩy mạnh ứng dụng AI và công nghệ số vào khâu phân loại nhằm tối ưu chi phí, từ đó sản xuất thành công các loại nhựa tái chế đạt tỷ lệ từ 50% đến 100% ứng dụng trong bao bì thực phẩm, xơ sợi, hóa mỹ phẩm và từng bước khẳng định vị thế trung tâm sản xuất nhựa kỹ thuật cao hàng đầu.
Nhằm thúc đẩy kinh tế xanh và triển khai hiệu quả cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), ông Lê Anh kiến nghị Nhà nước cần sớm ban hành quy định bắt buộc về tỷ lệ tái chế cho cả bao bì lẫn đồ điện, điện tử, xây dựng quy chuẩn thiết kế bao bì/nhãn sinh thái, đồng thời tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về độ an toàn của nhựa tái sinh và thúc đẩy phân loại rác thải tại nguồn. Ông Lê Anh chia sẻ “Khoảng 1 năm trước đây trên những cái chai thì họ sẽ để là "Hãy tái chế tôi, tôi được làm từ nhựa tái chế với tỷ lệ là 100%", nhưng mà hiện nay thì những cái thông điệp đó gần như đã dần dần được tháo bỏ, tại vì người tiêu dùng Việt Nam vẫn nghĩ là sản phẩm tái chế là sản phẩm không tốt, không chất lượng và mọi người vẫn sợ đâu đó là nó sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe. Nhưng mà những cái sản phẩm bottle-to-bottle như thế này thực ra là sẽ được kiểm soát rất là nghiêm ngặt, và những cái đơn vị mà sử dụng những cái chai như thế này thì họ sẽ trả cái chi phí là cao hơn 1,3 lần so với nhựa nguyên sinh. Và hiện nay thì chúng ta cũng đang có những cái hoạt động để thúc đẩy phân rác thải tại nguồn để hiệu quả, để tốt hơn. Hy vọng sắp tới chúng ta sẽ có một nền công nghiệp tái chế và tái chế sẽ lan tỏa đến nhiều người hơn, và nhiều người ủng hộ những cái sản phẩm tái chế hơn.”
Hội thảo "Gia tăng giá trị từ nhựa – cao su tái chế: Công nghệ, Vật liệu bền vững và Đầu tư xanh" không chỉ mở ra những giải pháp kỹ thuật cụ thể giúp doanh nghiệp tháo gỡ bài toán chi phí và công nghệ, mà còn khẳng định vị thế chiến lược của ngành tái chế trong xu hướng phát triển bền vững. Chuyển đổi xanh hiện không còn là lựa chọn mang tính hình thức, mà đã trở thành yếu tố cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh và sự tồn tại của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường toàn cầu. Với sự đồng hành từ các cơ quan quản lý, sự đóng góp trí tuệ của giới khoa học cùng tâm huyết từ cộng đồng doanh nghiệp, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để thúc đẩy ngành tái chế trở thành một lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, biến rác thải thành nguồn tài nguyên vô giá và hiện thực hóa mục tiêu Net Zero trong tương lai.

