Điện Biên Phủ - Khi những khối thép biết “leo dốc”

Không dây cáp, không động cơ, chỉ có những đôi chân trần và ý chí sắt đá. Làm thế nào những cỗ pháo 2,4 tấn có thể "leo" lên đỉnh núi, tạo nên kỳ tích lịch sử?

Trong dòng chảy của lịch sử quân sự thế giới, hình ảnh những chiến sĩ Việt Nam chân trần, dùng sức người kéo những cỗ pháo nặng hàng tấn qua những dốc cao vực thẳm đã trở thành một biểu tượng bất diệt của ý chí sắt đá. Huyền thoại đường kéo pháo trong chiến dịch Điện Biên Phủ không chỉ là một kỳ tích về hậu cần, mà còn là bản anh hùng ca về sự sáng tạo và lòng quả cảm vô song của dân tộc.

Ngày 22/12/1953, pháo binh ta xuất phát từ Tuyên Quang, được kéo bằng ô tô qua Yên Bái, Tạ Khoa, Cò Nòi. Để giữ bí mật, việc kéo pháo diễn ra hoàn toàn vào ban đêm. Tuy nhiên, xe ô tô chỉ kéo pháo vào cách Điện Biên Phủ 15km, sau đó bộ đội đã dùng tay không kéo pháo trực tiếp vượt núi.

Bộ đội ta kéo pháo vào Điện Biên Phủ - Ảnh tư liệu
Bộ đội ta kéo pháo vào Điện Biên Phủ - Ảnh tư liệu

Từ đây, bắt đầu một hành trình gian khổ, pháo được kéo bằng tay vào trận địa trên con đường do chiến sĩ công binh mới mở. Là một trong những chỉ huy kéo pháo trong suốt 10 ngày đêm, Đại tá Trần Xuân Hồng – nguyên Đại đội trưởng Đại đội 803, Trung đoàn pháo binh 45, Đại đoàn 351 chưa bao giờ quên thời khắc khó khăn đó: “Mỗi khẩu pháo ngoài pháo thủ ra thì phải chuẩn bị 2 dây chão to, dài. Khi kéo thì ít nhất phải 20 người một dây, nhưng chỗ nào dốc cao thì phải tăng cường 30 người một dây, mỗi đêm có thể đi được 3 – 5 km. Trong lúc kéo pháo đường dốc, không bằng phẳng nên phải tận dụng cái chèn. Anh em pháo thủ khá vất vả, mỗi người sau bánh xe dùng hai tay, khi pháo nhích lên thì mình chèn lại để cho nó khỏi trôi xuống. Nếu mình chèn không tốt, pháo vượt xuống thì lại phải kéo lần thứ hai.”

Những khúc gỗ hình tam giác được bộ đội ta sử dụng chèn pháo năm xưa - Tư liệu
Những khúc gỗ hình tam giác được bộ đội ta sử dụng chèn pháo năm xưa - Ảnh tư liệu

Đại tá Trần Liên – nguyên Tham mưu trinh sát Trung đoàn 367, Đại đoàn 351 nhớ lại: “Không có dây cáp như bây giờ đâu. Lính phải bện nứa và dây cóc trong rừng thành dây kéo, chặt cây gỗ làm tời. Có một cái dốc tôi gọi là dốc 7 tời, tức là phải 7 lần kéo như thế để lên núi, nên phải nói là gian khổ lắm. Nhưng phải hết sức giữ bí mật, mở đường đến đâu, kéo đến đấy, tối kéo xong là 5g sáng hôm sau phải ngụy trang lại bằng cây rừng để giữ bí mật cho con đường.”

Thế nhưng, đêm 25/1/1954, sau nhiều đêm thức trắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp suy nghĩ và quyết định phải cho lui quân. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng phương án “đánh nhanh thắng nhanh” mang nhiều tính chủ quan, không đánh giá đúng thực lực hai bên, không thể đảm bảo chắc thắng.

Trong vòng gần 2 tháng sau đó, pháo được kéo ra. Việc điều chỉnh phương châm tác chiến này kéo theo việc phải chuẩn bị lại hậu cần cho chiến dịch, nhu cầu hậu cần sẽ tăng lên gấp nhiều lần, diễn ra trong mùa mưa và phải bố trí lại sơ đồ các trận địa pháo, phải kéo pháo ra khỏi các sườn núi rồi kéo lại vào các vị trí mới. Nhưng chúng ta đã quyết tâm thực hiện và thực hiện được với một nỗ lực rất lớn.

Tái hiện hình ảnh bộ đội kéo pháo vào mặt trận Điện Biên Phủ trong bức tranh panorama tại Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ
Tái hiện hình ảnh bộ đội kéo pháo vào mặt trận Điện Biên Phủ trong bức tranh panorama tại Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

Đại tá Hoàng Thương – nguyên Đại đội phó Đại đội 91, Đại đoàn 304 nhớ lại: “Quá trình kéo pháo vào là 7 đêm 8 ngày, còn kéo pháo ra thì dài hơn, mà khi kéo pháo ra lại phải qua rất nhiều đèo dốc khác với lúc kéo pháo vào. Hơn nữa khi kéo vào thì chúng ta còn có điều kiện thuận lợi nhưng kéo ra thì lộ bí mật rồi. Không chỉ có pháo binh mà cả bộ binh cũng vào hỗ trợ. Quá trình đó rất gian khổ nhưng cuối cùng chúng tôi cũng thành công ra đến nơi.”

Đại tá Đinh Thuần - nguyên Đại đội phó Đại đội Pháo binh 105, Trung đoàn 45, Đại đoàn 351, hào hứng kể: “Mỗi khi kéo pháo sẽ có hai anh lính đứng hai bên, hô hò dô một cái, nhích lên một tí là phải lấy cái chèn để chèn ngay vào bánh cho pháo không chạy. Khó khăn là vậy nhưng vẫn kéo lên được đến nơi an toàn. Từ tay không mà đưa được hàng tấn sắt lên cao như vậy nên ngày xưa hò kéo pháo nổi tiếng lắm!”

IMG_1507
Báo Quân đội nhân dân xuất bản tại mặt trận Điện Biên Phủ - Ảnh tư liệu

Việc kéo pháo bằng tay vượt qua bao dốc cao, vực sâu đã trở thành bản hùng ca của dân tộc. Chính anh hùng Tô Vĩnh Diện đã hi sinh chèn mình để cứu pháo tại dốc Chuối. 

“Người lính trước khi bắt đầu vào trận đánh thì có kế hoạch rất tỉ mỉ, nhưng quan trọng nhất vẫn là lòng tin. Đánh là phải thắng, không có lòng tin thì làm sao có sức mạnh? Chính vì thế trong chiến đấu của bộ binh, cứ người này ngã thì người kia lên. Thậm chí có lô cốt địch mà ta hạ không được thì ta dám lấy người lấp lỗ châu mai để anh em bộ đội tiến lên. Thế nên chúng tôi hay động viên nhau, làm người phải có lòng tin, có tự hào, cái gì cũng phải do cái đầu, cái đầu có đi được thì cái chân cái tay mới đi được”, Đại tá Đinh Thuần khẳng định.

IMG_1510
Đại tá Đinh Thuần (phải) cùng Đại tá Trần Thịnh Tần là hai cựu chiến binh từng trực tiếp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ 

Vượt qua bao khó khăn, gian khổ, những khẩu pháo 75mm và súng cối 120mm, trọng pháo 105mm đã đồng loạt bắn cấp tập vào Trung tâm đề kháng Him Lam, trận mở màn của Chiến dịch Điện Biên Phủ lúc 17 giờ ngày 13/3/1954. Quân Pháp không ngờ được bộ đội Việt Minh có thể đưa pháo áp sát trận địa. Đây chính là yếu tố bất ngờ góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Giữa bóng tối mịt mùng của núi rừng Tây Bắc, dưới làn mưa bom bão đạn của thực dân Pháp, hàng vạn bộ đội và dân công đã "khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt" để mở ra những cung đường không tưởng. Những khẩu pháo nặng tới 2,4 tấn được di chuyển hoàn toàn bằng sức người qua những con dốc dựng đứng. Mỗi mét đường pháo nhích lên là một lần mồ hôi, máu và thậm chí là mạng sống của những anh hùng như Tô Vĩnh Diện đã đổ xuống để bảo vệ hỏa lực cho chiến dịch.

Việc đưa được pháo lên đỉnh cao để ngắm bắn trực tiếp đã đập tan hoàn toàn sự ngạo mạn của các tướng lĩnh Pháp, vốn tin rằng pháo binh Việt Minh không bao giờ có thể vượt qua được địa hình hiểm trở này. Cung đường ấy không chỉ vận chuyển vũ khí, mà còn tải đi niềm tin tất thắng, biến cái "không thể" thành "có thể", góp phần làm nên một Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Bình luận