Ngày 7/4/1975, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh với mục tiêu giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa. Ngày 26/4/1975, năm cánh quân như năm gọng kìm thép từ các hướng đồng loạt tiến về trung tâm thành phố, mang theo ý chí thống nhất non sông đã được hun đúc suốt 21 năm.
Quân đoàn 4 - “Binh đoàn Cửu Long”, đóng vai trò là một trong những quả đấm thép chủ lực trên hướng Đông của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong đó, chiến thắng của Quân đoàn 4 ở Biên Hòa đã mở toang cánh cửa phía Đông, tạo điều kiện thuận lợi cho các cánh quân khác tiến vào giải phóng Sài Gòn.
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh là Chính ủy Trung đoàn 141, Sư đoàn 7, Quân đoàn 4, nhớ lại: “Đánh Xuân Lộc đối với Quân đoàn là một chuỗi các trận đánh gian khổ nhất, ác liệt nhất và cũng là một thử thách oanh liệt nhất đối với Quân đoàn 4. Vì nơi đây Mỹ-ngụy xác định là cánh cửa thép bảo vệ Sài Gòn, nếu mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn. Chính vì thế trận đánh diễn ra từ mùng 9 đến ngày 21/4 rất quyết liệt và đơn vị của tôi, Quân đoàn tôi đã phải thay đổi cách đánh mới đập tan được "cánh cửa thép" này. Khi đập tan được "cánh cửa thép" thì làm rung chuyển toàn bộ các tuyến phòng ngự còn lại xung quanh Sài Gòn, làm cho ngụy quân, ngụy quyền sa sút về tinh thần chiến đấu, tạo điều kiện cho năm cánh quân tiến vào.”
Ngày 28/4/1975, Phi đội Quyết Thắng đã ném bom vào sân bay Tân Sơn Nhất, đánh trúng khu máy bay chiến đấu, phá hủy 24 chiếc máy bay quân sự các loại, một kho nhiên liệu chứa đầy xăng bốc cháy, gây thương vong hàng trăm binh lính ngụy, số sống sót đều bỏ chạy tán loạn. Trận không kích thành công rực rỡ, kết thúc thắng lợi trận đánh lịch sử, có một không hai của Không quân nhân dân Việt Nam.
Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Từ Đễ - nguyên Phó Cục trưởng Cục Quân huấn Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên phi công Phi đội Quyết thắng, kể lại: “Nhiệm vụ này có yêu cầu, thứ nhất là tiêu diệt lực lượng địch còn đồn trú ở sân bay. Thứ hai, không được ném bom đường băng, đường lăn, để Mỹ rút lui an toàn. Chúng tôi đã hoàn thành được yêu cầu mà Tư lệnh Quân chủng giao và hoàn toàn đảm bảo an toàn. Khi tôi ném bom thì tôi còn thấy chiếc C130 đang cất cánh. Vừa ném bom xong thì tôi tranh thủ bay dạo một vòng quanh Sài Gòn hoa lệ. Lúc đó trời vừa mưa xong, óng ánh, ánh sáng hắt lên. Ở độ cao khoảng 150m, gần dinh Tổng thống thì pháo bắn lên rất nhiều, đỏ trời, nhưng tôi nghĩ đến pháo hoa chiến thắng bởi vì thành phố sắp về tay mình rồi.”
Năm nay, Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Văn Tàu đã 98 tuổi nhưng vẫn còn rất minh mẫn. Câu chuyện về những chiến công của Lữ đoàn 316 mà ông từng làm Chính ủy, không chỉ là câu chuyện về những thành tích vẻ vang, mà đằng sau đó còn là bao máu xương, nước mắt, hy sinh chịu đựng để hoàn thành bằng được nhiệm vụ được giao, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, chênh lệch lực lượng ra sao. Điển hình như trong trận đánh chiếm cầu Rạch Chiếc ngày 27/4/1975, Lữ đoàn 316 khi đó với phiên hiệu là Z23, đã hy sinh 52 đồng chí trong một trận chiến không cân sức.
“Trận cầu Rạch Chiếc rất ác liệt vì đây là chỗ đánh sớm nhất trong Sài Gòn. Địch đem khí tài phản kích liên tục, nên ta đánh từ khuya ngày 27, giữ rồi phải lui ra chỗ mấy con rạch, sau đó ta lại chiếm lại trong ngày 30/4. Lúc đó chỉ còn trên dưới 10 người, 52 đồng chí hy sinh, giờ có bia tưởng niệm chỗ cầu Rạch Chiếc. Hy sinh rất lớn, nhưng đã giữ được cầu cho Lữ đoàn xe tăng 203 đi qua lúc 6g30 sáng để tiến về bắt Dương Văn Minh”, Đại tá Nguyễn Văn Tàu rưng rưng nói.
Những ngày cuối tháng Tư lịch sử, Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang Đặng Thọ Truật, khi ấy đang là cán bộ đại đội, tiểu đoàn D74, Quân đoàn 3 - tham gia đánh vào hướng Tây Bắc thành phố Sài Gòn. Trong đó, trận đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất qua ngã tư Bảy Hiền rất khó khăn và gây nhiều tổn thất cho quân giải phóng, vì địch bố trí hỏa lực mạnh, kiên quyết phản kích.
“Sau khi đánh chiếm Sư đoàn 25 hay còn gọi là Sư dù của Ngụy đóng ở Đồng Dù, rồi đánh thẳng vào sân bay Tân Sơn Nhất và trụ sở của Bộ Tổng tham mưu ngụy. Mà Bộ Tổng tham mưu là rất quan trọng, nếu địch chống cự thì mình rất khó khăn, nhưng Quân đoàn 3 đã đánh bại, chiếm trụ sở của Bộ Tổng tham mưu, tướng Cao Văn Viên bỏ chạy và chúng tôi đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất lúc bấy giờ mới có 10g thôi. Tướng Dương Văn Minh không có quân, không có lính gì cả nên ông ta buộc phải đầu hàng”, Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang Đặng Thọ Truật xúc động nhớ lại.
Sáng sớm ngày 30/4, từ khắp các hướng, năm cánh quân chủ lực của Quân Giải phóng đồng loạt tiến vào trung tâm Sài Gòn. Với sức mạnh áp đảo và tinh thần tiến công mạnh mẽ, Quân Giải phóng nhanh chóng làm chủ tình hình. Khoảng 10 giờ 45 phút, xe tăng của Lữ đoàn 203 thuộc Quân đoàn 2 đã húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập.
Ông Vũ Đăng Toàn - Chính trị viên Đại đội, Trưởng kíp xe tăng 390 - kể lại giây phút lịch sử đó: “Hai xe của đại đội trưởng là anh Thận và tôi là chính trị viên, anh Thận đi xe 843 còn tôi đi 390. Anh đi đường hiện nay là đường Lê Duẩn, tôi thì đi đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Anh Thận đi đường đấy thì anh tiếp cận nhanh hơn. Tôi đi vòng mất một vòng cho nên thời gian chậm hơn, và cứ nghĩ là đường vào cổng chính rất dễ, nhưng anh ấy không vào cổng chính mà anh rẽ sang cổng phụ bên trái rồi dừng lại. Lúc đó xe 390 cũng vừa đến, rất kịp thời. Trong tình hình như thế, thấy xe Đại đội trưởng dừng lại thì lái xe là đồng chí Nguyễn Văn Tập hỏi tôi “Thế nào anh Toàn?”. Tôi ra lệnh “Chú tông thẳng vào!” thì lập tức lái xe chấp hành, chuyển hướng chính diện và tăng ga, húc tung hai cánh cổng chính lao vào trong sân.”
Ngay sau đó, các chiến sĩ Quân Giải phóng nhanh chóng tiến vào bên trong, bắt giữ toàn bộ nội các của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, trong đó có Tổng thống Dương Văn Minh. Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được cắm trên nóc Dinh Độc Lập, đánh dấu sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh. 11 giờ 30 phút, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trên đài phát thanh.
Năm cánh quân tiến về Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh là hiện thân cho sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Việc hiệp đồng tác chiến nhịp nhàng từ năm hướng: Bắc, Tây Bắc, Tây Nam, Đông và Đông Nam đã tạo ra một thế trận bao vây toàn diện, khiến kẻ địch nhanh chóng rơi vào tình trạng tê liệt và tan rã. Những dấu chân của các chiến sĩ trên cả năm hướng tiến công đã góp phần dệt nên trang sử chói lọi nhất của thế kỷ 20, kết thúc hành trình 21 năm kháng chiến gian khổ để mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước. Tinh thần đoàn kết, quyết chiến quyết thắng ấy mãi mãi là bài học quý báu trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường hôm nay.



